Cần sửa đổi Luật Quốc tịch nhằm đảm bảo tính khả thi
12:18' 17/7/2006
Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã lên đến gần ba triệu người. Do đó, ngoài việc thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho họ ổn định cuộc sống, hoà nhập vào xã hội nước sở tại, thì việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người này cũng có ý nghĩa rất quan trọng.

Theo luật pháp và tập quán quốc tế, một quốc gia có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân nước mình trên lãnh thổ của quốc gia khác. Đây được gọi là bảo hộ ngoại giao đối với công dân trong quan hệ quốc tế.

Trên cơ sở chủ quyền quốc gia và thực hiện quyền bảo hộ ngoại giao trong quan hệ quốc tế, Điều 5 của Luật Quốc tịch (1998) quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó”.

Tuy nhiên, xét về nội dung, quy định này khó có thể áp dụng được một cách tuyệt đối, bởi theo nguyên tắc của luật pháp quốc tế, một quốc gia chỉ có quyền bảo hộ ngoại giao đối với công dân của mình, trừ những trường hợp đặc biệt. Theo đó, Việt Nam cũng chỉ có thể bảo hộ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài chứ không có quyền bảo hộ đối với công dân của nước khác, trừ trường hợp có thoả thuận với quốc gia liên quan. Trong khi đó, theo khoản 3 Điều 2 của Luật Quốc tịch thì “người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú tại nước ngoài”.


Như vậy, người Việt Nam ở nước ngoài gồm hai nhóm rõ rệt, đó là “công dân Việt Nam” và “người gốc Việt Nam”. Đối với nhóm công dân Việt Nam thì Việt Nam mặc nhiên có đầy đủ cơ sở pháp lý để bảo hộ. Còn đối với nhóm là người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì cho đến nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể. Theo suy luận và căn cứ vào sự phân loại tại Điều 6 và Điều 7 của Luật Quốc tịch có thể hiểu, người gốc Việt Nam ở nước ngoài là người trước kia đã từng có quốc tịch Việt Nam, nhưng vì lý do nào đó mà không còn quốc tịch Việt Nam nữa, chẳng hạn như, đã được nhập quốc tịch nước ngoài và được thôi quốc tịch Việt Nam, trường hợp này Việt Nam không thể bảo hộ, mà quyền bảo hộ ngoại giao phải do quốc gia mà hiện họ đang là công dân thực hiện.

Bên cạnh đó, trường hợp người Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn chưa thôi quốc tịch Việt Nam thì Việt Nam cũng rất khó bảo hộ, bởi nước sở tại sẽ tuyên bố đây là công dân của họ, họ có quyền bảo hộ ngoại giao và không cho Việt Nam tiến hành bảo hộ, mặc dù đây là “người Việt Nam ở nước ngoài” theo Điều 5 của Luật Quốc tịch.

Với những trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài đã mất quốc tịch Việt Nam nhưng chưa được nhập quốc tịch nước ngoài thì việc bảo hộ ngoại giao cũng rất khó tiến hành. Bởi về mặt pháp lý, họ không phải là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, trường hợp này rất ít gặp, vì ngoài trường hợp mất quốc tịch do bị tước quốc tịch, thì những trường hợp mất quốc tịch do được thôi quốc tịch, mất quốc tịch theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia và các truờng hợp khác được quy định tại Điều 23 của Luật Quốc tịch thì Việt Nam đã đảm bảo đến mức tối đa cho công dân sau khi mất quốc tịch Việt Nam sẽ có được quốc tịch của quốc gia khác, hạn chế tình trạng người không quốc tịch.

Như vậy, để đảm bảo tính khả thi của điều luật và phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều 5 của Luật Quốc tịch cần được sửa đổi như sau: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài”.

Ths. Cao Nhất Linh - Giảng viên Khoa Luật – ĐH Cần Thơ
Nguồn: TC Ngiên cứu lập pháp

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất