Dù ở thể chế chính trị nào đi nữa thì pháp luật luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng và được nhìn nhận như một phương tiện tồn tại của nhà nước. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Platon (427 - 347 TrCN) đã từng nhấn mạnh: Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và pháp luật nằm trong tay của một ai đó, còn nơi nào pháp luật nằm trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì ở đó có sự cứu thoát của nhà nước cùng với những lợi ích mà thượng đế ban cho các nhà nước đó.
Dù ở thể chế chính trị nào đi nữa thì pháp luật luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng và được nhìn nhận như một phương tiện tồn tại của nhà nước. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Platon (427 - 347 TrCN) đã từng nhấn mạnh: Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và pháp luật nằm trong tay của một ai đó, còn nơi nào pháp luật nằm trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì ở đó có sự cứu thoát của nhà nước cùng với những lợi ích mà thượng đế ban cho các nhà nước đó.
Nhận rõ vai trò to lớn của pháp luật, từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm và không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của chúng ta. Kể từ Quốc hội khoá I (bầu cử ngày 6/1/1946) đến nay (khoá XI), Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành 183 đạo luật (tính đến ngày 14/6/2005) và 194 pháp lệnh (tính đến ngày 1/10/2005), trong đó Quốc hội khoá I ban hành 11 đạo luật, khoá VIII: 31, khoá IX: 41, khoá X: 35 và khoá XI: 47.
Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền và đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật càng trở nên bức thiết. Trong bối cảnh đó, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, với mục tiêu là: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải "đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế chính sách và thủ tục hành chính để phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau".
Có thể nói, trong quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, việc phát huy hiệu lực điều chỉnh của hệ thống pháp luật có một ý nghĩa hết sức to lớn, không những góp phần cũng cố, bảo vệ một cách có hiệu quả những thành quả của cách mạng mà còn nhằm phát huy những thành quả đó, tạo đà cho bước phát triển mới của đất nước trong bối cảnh địa chính trị thế giới đã và đang có nhiều biến đổi sâu sắc. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã chính thức trở thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, càng đòi hỏi chúng ta xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi và minh bạch.
Trong khi nhấn mạnh những thành tựu to lớn của chúng ta trong đời sống pháp luật, một thực tế khác cũng đang diễn ra trong đời sống xã hội làm cho những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước không khỏi băn khoăn, đó là sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận cán bộ và quần chúng nhân dân.
Hiện nay, trong đời sống xã hội của chúng ta đang tồn tại một nghịch lý, đó là: quá trình đổi mới kinh tế của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều phương diện, làm cho đời sống vật chất của nhân dân được nâng lên một cách rõ rệt, nhưng đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng lại đang sa sút nghiêm trọng, dẫn đến nhiều vấn đề bất ổn đang diễn ra trong đời sống xã hội của chúng ta. Nguyên nhân nào đã dẫn đến tình trạng đó? Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận thực tế này một cách nghiêm túc để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục một cách có hiệu quả.
C. Mác đã từng chỉ ra rằng: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà của tất cả các quan hệ xã hội” (C. Mác, P. Ang ghen. Tuyển tập, Tập 2, Nxb Sự thật, H.1971, tr.493).
Theo đó, ngay từ khi vừa chào đời, con người đã lập tức nhập cuộc vào những quan hệ xã hội, trở thành “cái giá mang những quan hệ xã hội”, chịu sự tác động đa chiều của hàng loạt mối quan hệ xã hội. Và như chúng ta đã biết, kể từ khi xuất hiện, xã hội loài người đã đi một chặng đường rất dài trên con đường phát triển của mình mới xuất hiện nhà nước và pháp luật. Trong mối liên hệ đó, chúng ta cũng đã dễ dàng thấy rằng: trước khi xuất hiện quy phạm pháp luật, mọi quan hệ xã hội đã được điều chỉnh bởi nhiều loại quy phạm khác nhau - quy phạm đạo đức, quy phạm thẩm mỹ, quy phạm tín ngưỡng, quy phạm tôn giáo v.v.. - và sự điều chỉnh đó đã để lại một giá trị nhân văn rất lớn. Chắc chắn nhiều người trong dân chúng chưa biết đến, chưa thuộc Điều 151 của Bộ luật Hình sự hiện hành quy định rằng: “ Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng… thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”. Nhưng hầu hết, mọi người dân tộc Kinh ai cũng biết đến đạo lý: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ, kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Còn người Ê Đê thì luôn nhớ câu: “Có cây bắp, cây dưa là do có người trồng. Có con người là do có cha dưỡng, mẹ sinh”. Người M’nông ai cũng thuộc: “Cha mẹ sinh ra mới có ta. Cha mẹ nuôi ta mới sống… Con bỏ mẹ, bỏ cha có tội. Mẹ còn sống, nhà con ấm. Cha còn sống, nhà con vui.” Những đạo lý sống đó chắc chắn sẽ mãi song tồn với đời sống xã hội của chúng ta.
Ngay từ thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra lời cảnh báo rằng, bước sang thế kỷ 21, một trong những hiểm họa mà loài người phải đối mặt là sự suy thoái về đạo đức của con người. Lời cảnh báo đó đã và đang được chứng minh qua thực tế đời sống xã hội của chúng ta. Trong thời gian qua, tình trạng coi thường và vi phạm pháp luật diễn ra một cách nghiêm trọng và trắng trợn ở nhiều nơi, trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn. Trong mối liên hệ đó, một câu hỏi lớn đang được đặt ra là, tại sao xã hội rơi vào tình trạng đó, trong khi hệ thống pháp luật của chúng ta đang ngày càng được hoàn chỉnh?
Có thể nói rằng, trong một thời gian khá dài, chức năng điều chỉnh của pháp luật chưa được phát huy một cách mạnh mẽ, lối sống lệch chuẩn của một bộ phận công dân không được ngăn chặn kịp thời, kiên quyết và có hiệu quả, đã trở thành “một dịch bệnh” lây lan nhanh và vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng và đã trở thành “lối sống” của một bộ phận dân cư trong xã hội.
Thực trạng trên đây của xã hội cần được xem xét đánh giá từ những góc độ khác nhau. Như chúng ta đã biết, từ năm 1986, nước ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự đổi mới về tư duy kinh tế đã mang lại những thành tựu hết sức to lớn kinh tế, đã tạo bước phát triển đột biến về đời sống vật chất cho dân chúng, song tư duy về văn hoá, đạo đức trong nền kinh tế thị trường lại ít được quan tâm và chậm đổi mới hơn rất nhiều so với tư duy kinh tế, do đó đã tạo nên sự hẫng hụt, thiếu cân bằng giữa các đại lượng kinh tế - văn hoá và đạo đức.
ở khía cạnh khác, chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua, công tác xây dựng pháp luật đã rất được quan tâm, nhiều văn bản luật được ban hành và đã tạo nên một hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, song công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, hướng dẫn thi hành pháp luật chưa được coi trọng đúng mức, chưa được tiến hành kịp thời, dẫn đến sự thiếu đồng bộ giữa ban hành luật và thi hành luật và do đó, một hệ quả tất yếu xảy ra là, pháp luật chưa phát huy đầy đủ hiệu lực điều chỉnh và chưa thực sự đi vào đời sống xã hội một cách đầy đủ, dẫn đến một bộ phận dân chúng ngày càng xa rời những quy tắc hành vi do pháp luật xác định.
Từ thực tế trên đây, chúng ta không thể không xem xét đến một khía cạnh khác về nhận thức đối với pháp luật, đó là việc đề cao và nhấn mạnh “tính tối thượng của luật”, coi pháp luật như một phép mầu nhiệm, là "cây gậy thần” và chỉ cần có cây gậy đó là đủ để xếp đặt trật tự xã hội theo ý muốn. Theo quan niệm đó thì càng ban hành nhiều luật thì trật tự xã hội càng được bảo đảm. Đó thực chất là một sự nhận thức không đầy đủ về pháp luật. Vì rằng, việc xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ đủ sức để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là một tất yếu, nhưng việc làm đó hoàn toàn chưa đủ. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là, cùng với việc xây một hệ thống pháp luật đồng bộ, phải đồng thời coi trọng và bảo đảm tính hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật. Yêu cầu của công tác giáo dục pháp luật trước hết phải nhằm huy động được quần chúng vào thực tiễn của cuốc đấu tranh một cách không khoan nhượng với sự vi phạm pháp luật. Hiệu quả thực tế của công tác giáo dục pháp luật được thể hiện trước hết là ở chỗ, quần chúng sử dụng và tuân thủ pháp luật như thế nào? Mức độ chịu đựng của quần chúng đến đâu về những vi phạm pháp luật, về sự lạm dụng quyền hành, về sự nhũng nhiễu, cửa quyền, về hành vi trộm cắp, về sự lỏng lẻo, vô kỷ luật của những người coi thường pháp luật. Có thể nói rằng, mức độ dung thứ của quần chúng đối với những hành vi trên là biểu hiện thực tế kết quả của công tác giáo dục pháp luật, vì rằng ý thức pháp luật càng cao, quần chúng càng nghiêm khắc, kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó cho chúng ta thấy rằng, một trật tự xã hội chỉ được thiết lập và duy trì dựa trên cơ sở phát huy đồng bộ hiệu lực điều chỉnh của pháp luật, đạo đức và văn hoá trên nền tảng chung là sự hiểu biết pháp luật và ý thức trách nhiệm của công dân đối với xã hội.
Trong quá trình hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền, bên cạnh việc đề cao vai trò của pháp luật, chúng ta đồng thời phải đề cao và phát huy hơn nữa các giá trị của văn hoá và đạo đức. Sở dĩ phải nhấn mạnh như vậy, bởi vì thực tế trong thời gian vừa qua cho thấy, trong khi chúng ta đẩy nhanh tốc độ phát triển hệ thống pháp luật và tiến hành nhiều giải pháp cải cách kinh tế mang tính năng động sáng tạo, đã thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nhưng chúng ta lại thiếu đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, thiếu những giải pháp hữu hiệu trong việc giáo dục chính trị, đạo đức. Có thể nói rằng ở lĩnh vực giáo dục văn hoá, đạo đức, ở nhiều nơi, nhiều lúc chúng ta mới đẩy mạnh các giải pháp mang tính hình thức mà chưa coi trọng tính hiệu quả xã hội của nó. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó qua một thực tế là, hiện nay trên cả nước chúng ta đã có hàng chục vạn “Làng văn hoá”, “Cụm văn hoá”, hàng triệu “Gia đình văn hoá”, bên cạnh đó còn có hàng vạn bản “hương ước”, “quy ước văn hoá” được ra đời, thế nhưng tình trạng “thiếu văn hoá” vẫn đang diễn ra một cách nghiêm trọng cả ngoài xã hội cũng như trong nhiều cơ quan nhà nước, dưới nhiều dạng thức khác nhau như coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật một cách ngang nhiên, đưa và nhận hối lộ, chạy chức, chạy quyền v.v.. Thực tế trên đây giúp chúng ta thêm một lần nữa thấm thía lời nói của C. Mác: “Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra, mà không phải là do ý muốn tuỳ tiện của một cá nhân” (Các Mác, Phridrich Angghen, Tuyển tập, tập 1. Nxb Sự thật, H.1980. tr.693).
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác định rõ mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật và đạo đức. Người đã chỉ rõ rằng, xây dựng nhà nước phải dựa trên hai tiêu chuẩn, trong đó đạo đức là gốc, pháp luật là chuẩn. Theo đó, nếu chúng ta chỉ chú trọng ban hành luật mà thiếu quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chuẩn mực về đạo đức, sẽ khó tránh khỏi sự tha hoá về nhân cách, dẫn đến khủng hoảng xã hội. Do đó, vấn đề đặt ra lúc này là chúng ta phải bảo đảm sự đồng bộ giữa quá trình phát triển kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, gắn liền với việc phát huy và đề cao các giá trị đạo đức và phải đặt quá trình đó trong mối liên hệ với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế dân chủ trên nền tảng một nền văn hoá pháp lý phát triển. Đó chính là giải pháp để chúng ta vượt qua những thử thách mà hiện nay, đời sống xã hội đang đặt ra.
Theo Nguyễn Đình Đặng Lục, TC NCLP