Tuy nhiên, hiện nay hầu hết doanh nghiệp mới quan tâm đến việc đầu tư trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng… Rất ít lãnh đạo doanh nghiệp hiểu đúng giá trị của tài sản sở hữu trí tuệ.
Tổng giám đốc Tổ chức sở hữu trí tuệ (SHTT) thế giới Kamil Idis cho biết, ở các nước phát triển SHTT là loại tài sản quan trong nhất, có giá trị nhất đối với mỗi doanh nghiệp. Thế nhưng, ở Việt Nam số doanh nhân là lãnh đạo doanh nghiệp thông hiểu về giá trị của tài sản SHTT còn rất ít, vấn đề đầu tư cho tài sản SHTT dường như vẫn chưa nằm trong chiến lược kinh doanh của mỗi DN…
Trong những năm gần đây, SHTT luôn là vấn đề thời sự, trọng tâm được thảo luận tại các hội nghị, hội thảo về quan hệ kinh tế quốc tế. SHTT cũng là nội dung không thể thiếu trong các điều ước quốc tế về hợp tác song phương, đa phương. Đặc biệt, bảo hộ đầy đủ, hiệu quả quyền SHTT là điều kiện bắt buộc mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải đáp ứng khi trở thành thành viên WTO.
Nhận thức được điều đó, trong vòng một thập kỷ gần đây, Chính phủ Việt Nam rất coi trọng vấn đề SHTT thông qua các hoạt động khuyến khích nghiên cứu, sáng tạo, áp dụng và đổi mới công nghệ, thúc đẩy hoạt động đầu tư thương mại… Quan điểm này đã được cụ thể hoá bằng cơ sở pháp lý, thiết lập được hệ thống bảo hộ SHTT khá đầy đủ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp (DN) như: bảo hộ quyền tác giả, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh…
Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Hoàng Văn Tân nhận định, một thực tế không mấy sáng sủa là phần lớn DN Việt Nam đều chưa nhận thức đúng giá trị thực tế của tài sản SHTT. Điều đó được minh chứng bằng những số liệu thống kê cụ thể như: Đơn đăng ký bảo hộ sáng chế của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm 9,24%/tổng số hồ sơ đăng ký mà cơ quan quản lý nhận được, số liệu này ở lĩnh vực giải pháp hữu ích 60,3%; Nhãn hiệu hàng hoá 58,12%; Văn bằng bảo hộ sáng chế 4,5%; Kiểu dáng công nghiệp 84,3%...
Vì sao các DN trong nước ít quan tâm đến tài sản SHTT? Lý giải điều này, ông Tân cho rằng, do từng DN chưa có thống kê, định giá cụ thể về giá trị thương hiệu, hàng hoá của mình, nên tiền bạc đầu tư rất lớn cho tài sản vật chất, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, còn đầu tư cho SHTT còn rất khiêm tốn… Ở Việt Nam đã có không ít những bài học về việc bị đánh cắp bản quyền sản phẩm như: thuốc lá Vinataba, cafe Trung Nguyên, Công ty HONDA, Công ty UNILEVER,… để rồi khi “mất bò mới lo làm chuồng” bằng cách kiện tụng qua lại gây lãng phí thời gian, tốn kém tiền bạc mà nhiều trường hợp, việc mất vẫn hoàn mất!
Cũng theo ông Tân, nền kinh tế Việt Nam nói chung, từng DN nói riêng, muốn hạn chế thấp nhất những rủi ro liên quan đến các vụ kiện pháp lý về SHTT, không còn cách nào khác phải có chiến lược quan tâm, đầu tư thoả đáng đến SHTT, từ việc đặt tên DN, đăng ký kinh doanh cho đến việc lựa chọn sản phẩm, dịch vụ công nghệ, kiểu dáng, nhãn hiệu... để tránh lâm vào tình trạng vi phạm pháp luật.
Đặc biệt, đối với có DN có hàng hoá xuất khẩu hoặc có kế hoạch xuất khẩu hàng hoá, cần tìm hiểu kỹ pháp luật SHTT của thị trường mà DN có dự định xuất khẩu, vừa để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của bản thân DN, vừa không xâm phạm đến quyền SHTT của DN khác.
Thực tiễn cho thấy, nhiều công ty, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khai thác có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ như: Coca Cola, Microsoft, IBM, Toyota, Honda, Sony…với giá trị thương hiệu, tài sản SHTT lên tới cả chục tỷ USD. Điều đó góp thêm một minh chứng rằng, SHTT là tài sản vô hình, nhưng vô cùng quan trọng đối với mỗi DN trong suốt chặng đường hình thành và phát triển./.
Theo Báo điện tử VOV