Công bằng mà nói, lâu nay chúng ta chỉ quan tâm đến hổ dưới dạng cao. Vì vậy, cuộc tranh luận sôi nổi hiện nay về việc ông Ngô Duy Tân ở Bình Dương có quyền được nuôi hổ nhốt hay không có vẻ như là một hiện tượng mới mẻ. Hiện tượng này là rất đáng mừng: nó cho thấy ý thức bảo vệ môi trường đã được nâng lên và ý thức chấp hành pháp luật cũng vậy. Tuy nhiên, cái sự mừng lo lẫn lộn thì vẫn còn. Bởi vì rằng việc áp dụng pháp luật ở ta thật là lúng túng. (Trong lúc đó pháp luật chỉ tốt ngang bằng với việc nó được áp dụng như thế nào trong cuộc sống).
Sự lúng túng này do nhiều nguyên nhân. Trong đó có nguyên nhân là mục đích của pháp luật đã ít được chú ý trong quá trình áp dụng pháp luật.
Việc cấm nuôi hổ nhốt chuồng trái phép chỉ là phương tiện của pháp luật chứ không phải mục đích của pháp luật. Mục đích của pháp luật là bảo tồn động thực vật hoang dã quí hiếm, trong đó có cả những chú hổ. Việc cấm nuôi hổ nhốt được đề ra là căn cứ vào giả thuyết: nếu hành vi nuôi nhốt bị cấm, thì hành vi săn bắt hổ hoang dã về nuôi cũng sẽ không còn được khuyến khích. Và nhờ vậy mà các chú hổ hoang dã sẽ được bảo tồn. (Thực ra, đây là một giải thuyết rất đáng ngờ, vì người ta săn bắt hổ chủ yếu là để nấu cao, chứ không phải để nuôi).
Nếu việc bảo tồn hổ hoang dã là mục đích thì khi cần thiết hổ sẽ phải được nuôi trong điều kiện nhân tạo, trong đó có việc nuôi nhốt chuồng. Ví dụ, trường hợp hổ bị thương, bị bệnh hay trong những trường hợp hổ con bị lạc mẹ, hổ mẹ bị chết, bị giết… Ngoài ra, trong trường hợp môi trường sống tự nhiên của hổ đã bị huỷ hoại, thì việc nuôi hổ nhân tạo là cách duy nhất để bảo tồn nguồn gen. Như vậy, những trường hợp nuôi hổ nhân tạo nói trên là đúng phép chứ không phải trái phép.
Vấn đề là trường hợp nuôi hổ của ông Tân có đúng phép hay không?
Nếu người bán những chú hổ con cho ông Tân là người đã săn bắt hổ hoang dã, ông Tân biết điều đó mà vẫn mua, thì ông đã vi phạm pháp luật. Và việc nuôi hổ nhốt của ông là không được phép. Nhưng nếu người bán hổ cho ông đã nhặt được mấy con hổ ốm trong rừng do mẹ chúng bị chết hoặc bị giết hoặc do chúng lạc mẹ…, người này không tự mình nuôi hổ được mà phải bán lại cho ông Tân, thì việc nuôi hổ nhốt của ông là không thể trái pháp luật. (Việc xin phép trong trường hợp này chỉ là yêu cầu về mặt thủ tục. Và ông Tân cũng đã làm điều này). Cho đến nay chưa ai có thể chứng minh được nguồn gốc của những chú hổ con đã được bán cho ông Tân. Mà như vậy thì nguyên tắc suy đoán vô tội phải được áp dụng, nghĩa là việc ông Tân nuôi hổ nhốt là hợp pháp.
Ngoài ra, đối với những chú hổ thuộc thế hệ F2 thì ông Tân hoàn toàn có quyền nuôi và kinh doanh vì chúng không phải là động vật hoang dã nữa. Xét từ góc độ mục đích của pháp luật, thì việc bảo đảm quyền này cho ông Tân là rất quan trọng. Những chú hổ được nuôi nhân tạo vẫn có thể góp phần bảo tồn được nguồn gen cần thiết. Ngoài ra chúng sẽ làm giảm áp lực của việc săn bắn hổ hoang dã để nấu cao.
Ts Nguyễn Sĩ Dũng
Theo Báo Người Đại biểu nhân dân