"Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về
việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải
quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước
khuyến khích...."
1. Hoà giải và điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự về sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự
Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về
việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải
quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước
khuyến khích. Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết
vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự
cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thường
Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận
đó. Hoà giải là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có
quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung
nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp. Trong
trường hợp đương sự uỷ quyền cho người đại diện, người đại diện theo
pháp luật, người đại diện do Toà án cử có quyền hoà giải với đương sự
phía bên kia vì họ là những người mang quyền, nghĩa vụ của đương sự.
Còn đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích
của người khác theo quy định của pháp luật là người đại diện theo pháp
luật nhưng do họ không phải là chủ thể của quan hệ tranh chấp nên họ
không có quyền tham gia hoà giải. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự ( viết
tắt là BLTTDS), hoà giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định
đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những
nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 5 BLTTDS quy
định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có
quyền… thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và
đạo đức xã hội”. Và Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo
điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án theo quy định của BLTTDS. Dù việc hoà giải do Toà án tiến
hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ
quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào
có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những
mâu thuẫn tranh chấp và nội dung hoà giải giữa các đương sự không được
trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm, hoà giải là trách nhiệm bắt buộc của Toà án đối với hầu hết các
vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự không được hoà giải (Điều 181
BLTTDS) và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 182
BLTTDS). Trong trường hợp, Toà án tiến hành hoà giải và các đương sự
thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các vấn đề về nội
dung vụ án và án phí) thì Toà án sẽ lập biên bản hoà giải thành. Biên
bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn
bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự
nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Quyết định này có hiệu lực
pháp luật ngay (các điều, từ Điều 183 đến Điều 188 BLTTDS).
Pháp luật tố tụng dân sự trước kia, ngoài việc quy
định trách nhiệm bắt buộc hoà giải của Toà án trước khi xét xử sơ thẩm,
còn quy định việc Toà án có thể hoà giải ở các giai đoạn khác nếu xét
thấy có khả năng hoà giải. Điều đó có nghĩa, tại phần thủ tục tranh
luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX)
sẽ giải thích pháp luật, phân tích nội dung tranh chấp, phân tích lợi
ích của việc hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy
nhiên, BLTTDS được xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở hai bên”,
xác định nhiều hơn trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện
của mình, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu thuộc về các
đương sự, cho nên Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án ở giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì
Toà án không hoà giải mà Toà án chỉ tạo điều kiện để các bên tự hoà
giải bằng cách hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về giải
quyết vụ án hay không? Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trình tự tiếp
theo của thủ tục hỏi tại phiên toà là chủ toạ phiên toà hỏi các đương
sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Đây là
điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia
về thủ tục tiến hành phiên toà.
Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra xem các
đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Nếu các đương sự tự
thoả thuận được với nhau và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không trái
pháp luật và đạo đức xã hội thì Toà án sẽ công nhận sự thoả thuận đó.
Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến hành hòa giải sẽ
khác với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây là hai trường hợp
khác nhau trong tố tụng dân sự. Việc hoà giải do các đương sự tự thoả
thuận, về thủ tục hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án, các đương
sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau
để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất
định. Kết quả của việc đó là các đương sự thoả thuận được với nhau do
các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, mặc dù Tòa án không
hề tác động gì. Đối với trường hợp việc hoà giải do Toà án tiến hành,
mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hoà giải nhưng kết quả hoà giải
có vai trò rất lớn của Toà án. Khi tiến hành hoà giải giữa các đương
sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Toà án như một người trọng
tài giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau trong việc chủ động xác
định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hoà giải, giải thích
pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…, để từ
đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến
thoả thuận.
2. Những vụ án dân sự Toà án áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm dân sự
Trong trường hợp hoà giải do Toà án tiến hành thì
Toà án không hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải và những
vụ án không hoà giải được. Vậy, đối với những vụ án không được hoà giải
và những vụ án không hoà giải được, HĐXX có hỏi các đương sự về sự thoả
thuận hay không? Do Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nên dẫn đến
có những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Cách thứ nhất có thể hiểu
rằng, Điều 220 BLTTDS không quy định có nghĩa không hạn chế bất cứ
trường hợp nào, vì vậy tất cả các vụ dân sự đều bắt buộc phải áp dụng
thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Cách thứ hai có thể hiểu
rằng, mặc dù Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nhưng những quy định
chung về hoà giải được quy định ở phần chuẩn bị xét xử sơ thẩm cũng
được áp dụng tại phiên toà sơ thẩm, cho nên, phải trừ những vụ án không
được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, còn lại Toà án mới
hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Chúng tôi cho rằng, các ý kiến trên
đều có những điểm hợp lý nhưng đều chưa xem xét vấn đề một cách thấu
đáo trên cơ sở bản chất của từng loại việc.
Như đã phân tích ở trên, thực chất của việc Toà án
hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là
việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay
không. Tuy trường hợp hoà giải thành do Toà án tiến hành và trường hợp
các đương sự tự hoà giải khác nhau về thủ tục, vai trò của Toà án và
hậu quả pháp lý nhưng đều có chung bản chất là Toà án công nhận sự thoả
thuận của các đương sự. Mà bản chất của thoả thuận về giải quyết vụ án
của đương sự là một dạng giao dịch dân sự. Cho nên, Toà án chỉ công
nhận giao dịch đó nếu nó thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự.
Đối với trường hợp không được hoà giải là những vụ
án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là
những trường hợp mà bản thân giao dịch dân sự trước đó giữa các bên là
các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô
hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì “giao
dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục
lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy,
Toà án không thể hỏi các bên đương sự về sự thoả thuận của các bên về
việc tiếp tục thực hiện giao dịch đó để rồi công nhận sự thoả thuận đó.
Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của
giao dịch vô hiệu đó thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự xem có thoả
thuận được với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự đó.
Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khôi
phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn
trả lại tài sản. Mà bản thân những vấn đề này không trái pháp luật và
đạo đức xã hội nên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận.
Đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại
đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt
hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ
dân sự… gây ra và người được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài
sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như
sau. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh
nghiệp mà các doạnh nghiệp được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản đó như trường hợp tài
sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật
Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khi có tranh
chấp, các bên có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án. Do đó,
trong những trường hợp này Toà án phải hỏi các đương sự về sự thoả
thuận. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước được giao cho cơ
quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào các
doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ
quan có thẩm quyền tức là trường hợp các chủ thể không được tự chủ
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản… nên khi có tranh chấp, các bên
cũng không có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án vì sự thoả
thuận có thể làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Do đó, trong những
trường hợp này Toà án không được hỏi các đương sự về sự thoả thuận.
Đối với những vụ án không hoà giải được (bị đơn đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, đương sự
không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng, đương sự là vợ hoặc
chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự) là những
trường hợp mà pháp luật quy định phải hoà giải nhưng thực tế có những
trở ngại khách quan dẫn đến không hoà giải được. Sở dĩ những trường hợp
này toà án không hoà giải được vì hoà giải là sự thoả thuận của chính
các đương sự, cho nên khi tiến hành hoà giải nếu vắng mặt một bên đương
sự hoặc một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh
chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể
hoà giải được. Tuy nhiên, đối với những trường hợp ở giai đoạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm khi triệu tập hoà giải, bị đơn cố tình vắng mặt khi đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đương sự không thể tham gia hoà
giải vì có lý do chính đáng. Đến phiên toà sơ thẩm dân sự các đương sự
có mặt thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với
vụ án ly hôn mà đương sự là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi
dân sự, nếu tại phiên tòa đương sự đó vẫn là người mất năng lực hành vi
dân sự thì họ không thể thoả thuận đối với đương sự phía bên kia, do
đó, Toà án không hỏi các đương sự về sự thoả thuận.
3. Hậu quả pháp lý của việc Toà án hỏi các đương sự về sự thoả thuận của các bên tại phần thủ tục hỏi ở phiên toà sơ thẩm dân sự
Khi HĐXX hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Điều 220 BLTTDS quy định: “ Trong
trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và
thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã
hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về
giải quyết vụ án”.
Như vậy, tại phiên tòa nếu các đương sự thoả thuận
được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các thoả thuận về nội dung vụ
án và phần án phí) và sự thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp
luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra ngay quyết định công nhận sự thoả
thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau bảy
ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong
trường hợp này, toàn bộ nội dung thoả thuận của các đương sự được Thư
ký Toà án ghi vào biên bản phiên toà chứ không lập riêng biên bản hoà
giải thành, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực
pháp luật ngay và phiên toà sơ thẩm dân sự kết thúc tại đây. Tuy nhiên,
trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận giải quyết được một phần
vụ án, Toà án sẽ giải quyết như thế nào thì BLTTDS không quy định minh
bạch nên có thể có những cách hiểu khác nhau.
Ý kiến thứ nhất, Toà án vẫn tiếp tục xét xử
phần các đương sự không thoả thuận được với nhau, còn việc thoả thuận
của các đương sự sẽ được phản ánh trong biên bản phiên toà và phần thoả
thuận được sẽ được Toà án ghi nhận trong phần quyết định của bản
án.Theo quan điểm này, toàn bộ nội dung vụ án vẫn được Toà án ra bản án
và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định về chính thoả
thuận trước đó của mình. Ưu điểm của cách làm này là việc giải quyết vụ
án được tiến hành nhanh, không quá phức tạp về thủ tục tố tụng và dường
như phán quyết của Toà án có lợi cho đương sự vì nếu đương sự thay đổi
ý kiến, không đồng ý với thoả thuận trước đó thì họ có quyền kháng cáo.
Nhưng nhược điểm của phương án này là đương sự có quyền chống lại thoả
thuận của chính mình nên Toà án phải chạy theo đương sự và trong nhiều trường hợp có đương sự sẽ lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Ý kiến thứ hai, Toà án sẽ ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của đương sự đối với phần các đương sự thoả
thuận được, nội dung thoả thuận được ghi nhận trong biên bản phiên toà,
quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và đưa ra xét xử phần các
đương sự không thoả thuận được. Phương án này sẽ khắc phục được những
nhược điểm của phương án thứ nhất. Tuy nhiên, nếu phần nội dung tranh
chấp các đương sự thoả thuận được và phần nội dung các đương sự không
thoả thuận được có liên quan chặt chẽ với nhau thì Toà án không thể vừa
công nhận sự thoả thuận và vừa ra bản án để giải quyết một quan hệ pháp
luật tranh chấp, trong khi hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự và hiệu lực của bản án sơ thẩm lệch pha nhau.
Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên qua một số ví dụ sau:
Ví dụ 1: M, N, P tranh chấp về việc chia di sản thừa
kế của cụ K. Tại phiên toà, cả ba người đã thống nhất được căn nhà sẽ
giao cho M quản lý, sử dụng đồng thời là nơi thờ cúng tổ tiên, còn các
tài sản khác đương sự chưa thống nhất cách phân chia.
Ví dụ 2: Các đương sự thoả thuận được việc giải
quyết nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng không thoả thuận được
về phần án phí.
Ví dụ 3: A khởi kiện ly hôn B và chia tài sản chung
của vợ chồng. Khi biết A khởi kiện ly hôn B, C yêu cầu A, B trả nợ C 80
triệu đồng. Tại phiên toà sơ thẩm A,B đã thoả thuận trở về đoàn tụ
nhưng C vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi nợ.
Nhận xét về hai quan điểm trên, chúng tôi thấy, việc
Toà án sẽ giải quyết vụ án như thế nào phụ thuộc vào nội dung quan hệ
pháp luật tranh chấp giữa các đương sự. Nếu vụ án chỉ có một quan hệ
pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 1,2) thì Toà án chỉ ra quyết định công
nhận sự thoả thuận của các đương sự khi đương sự thoả thuận được toàn
bộ các vấn đề của vụ án, kể cả án phí; nếu các đương sự không thoả
thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án thì HĐXX sẽ ra bản án công nhận
phần các đương sự thoả thuận được và xét xử phần các đương sự không
thoả thuận được. Bởi thực chất trong trường hợp này các bên chỉ tranh
chấp về một quan hệ pháp luật, vì vậy Toà án không thể tách quan hệ
pháp luật đó thành hai phần để ra quyết định công nhận sự thoả thuận
đối với phần các đương sự thoả thuận được và xét xử đối với phần các
đương sự không thoả thuận được. Còn trong trường hợp nếu vụ án có nhiều
quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 3) thì thực chất trong trường
hợp này Toà án đã nhập các quan hệ tranh chấp đó để giải quyết trong
cùng một vụ án, vì vậy nếu trong quá trình giải quyết các đương sự thoả
thuận được một trong số các quan hệ đó thì Toà án sẽ ra quyết định tách
vụ án và ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với quan hệ mà các
đương sự thoả thuận được, tiếp tục xét xử đối với quan hệ mà các đương
sự không thoả thuận được .
4. Giải quyết việc các đương sự thoả thuận
với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn tranh luận và nghị án
của phiên toà sơ thẩm dân sự
Trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai
đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án, HĐXX có được áp dụng Điều 220 BLTTDS để công
nhận sự thoả thuận của các đương sự hay vẫn phải tiếp tục ra bản án và
công nhận sự thoả thuận của các đương sự là vấn đề có nhiều quan điểm
khác nhau.
Có quan điểm cho rằng, Điều 220, theo cách sắp xếp
hiện nay trong BLTTDS, được hiểu chỉ có thể áp dụng ngay trong phần đầu
của giai đoạn hỏi mà không thể áp dụng trong suốt phiên toà sơ thẩm
được. Do đó khi quá trình giải quyết vụ án vượt qua thời điểm giai đoạn
đầu của giai đoạn hỏi, nếu các đương sự thoả thuận được về việc giải
quyết vụ án sẽ không có điều luật cụ thể để áp dụng trong khi bản án,
quyết định theo đòi hỏi sẽ cần viện dẫn điều luật một các cụ thể từ
điểm, khoản cho tới điều luật. Bởi, trong phần phiên toà sơ thẩm, không
có được một quy định như Điều 270 của phiên toà phúc thẩm (1). Vì vậy,
cần phải ra bản án để công nhận sự thoả thuận của đương sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng cho rằng, trong trường
hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu
thấy cần thiết phải quay lại phần hỏi, căn cứ vào các điều 235,237
BLTTDS, HĐXX sẽ quyết định trở lại phần hỏi, mà việc công nhận sự thoả
thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm được quy định ở thủ tục
hỏi. Vì vậy, HĐXX có quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả
thuận của các đương sự.
Theo chúng tôi, HĐXX được quyền áp dụng Điều 220
BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Bởi, nếu nhìn từ
góc độ quyền tự định đoạt của các đương sự thì không nên hạn chế việc
áp dụng Điều 220 trong suốt quá trình diễn ra phiên toà sơ thẩm. Nếu
không áp dụng Điều 220 BLTTDS, Hội đồng xét xử sẽ phải ra bản án công
nhận sự thoả thuận, đương sự có quyền kháng cáo bản án tức là có quyền
chống lại sự thoả thuận của chính mình, điều đó sẽ làm kéo dài quá
trình tố tụng và không đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả
thuận của chính mình. Hơn nữa, xét về mặt logíc nếu thoả thuận ở phần
thủ tục hỏi, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền
kháng cáo nhưng nếu thoả thuận ở giai đoạn sau (tranh luận hoặc nghị
án) đương sự lại có quyền kháng cáo là điều vô lý. Mặt khác mục đích
của việc mở phiên toà cũng chỉ nhằm giải quyết tranh chấp giữa các
đương sự mà thôi nên khi các đương sự đã tự giải quyết được mâu thuẫn
thì việc xét xử là không cần thiết.
5. Xem xét nội dung thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự
Điều 5 và Điều 220 BLTTDS quy định tại phiên toà sơ
thẩm đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
nhưng việc thoả thuận đó phải “không trái pháp luật” và đạo
đức xã hội. Còn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân
sự (BLDS) thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực
pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều
cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật
là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những
hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa
người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn
trọng. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định không thống
nhất với nhau. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là vì khi ban hành
BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây
dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì
một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích
và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội”.
Nhưng đến ngày 1/1/2006 thì BLDS năm 1995 hết hiệu lực và thay vào đó
là BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định không thống nhất như vậy sẽ
rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình cũng như việc ra quyết định của Toà án. Vì nếu theo quy định
của Điều 220 BLTTDS thì đương sự có quyền thực hiện các quyền và nghĩa
vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện đó phải “không trái pháp
luật”, nghĩa là đương sự chỉ được làm những gì đúng với quy định của
pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì các
chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung có thể thoả thuận tất cả những
gì mà pháp luật không cấm.
Với quy định của Điều 122 BLDS năm 2005, các chủ thể trong các giao dịch dân sự có thể thực hiện các giao dịch dân sự nếu mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội
đó. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, nó phù hợp với tinh
thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020, về định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự,
kinh tế thì “hoàn thiện chế độ bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Vì vậy, cần sửa cụm từ “không trái pháp luật” được quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS thành cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật”.
Với việc quy định như vậy một mặt đã mở rộng các quyền tố tụng của
đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật tố tụng dân sự với luật
dân sự./.
ThS. Bùi Thị Huyền - Khoa Dân sự- ĐH Luật Hà Nội
Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com
Tài liệu tham khảo
(1) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề
tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà
Nội, tr. 21 năm 2005.