Thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán của Liên minh Châu Âu và một số liên hệ với luật tố tụng dân sự Việt Nam
8:35' 29/12/2008
"... Sự cần thiết có một thủ tục tố tụng như vậy xuất phát từ thực tế là việc con nợ chậm thanh toán khoản nợ không bị tranh chấp là một trong những nguyên nhân chính làm chủ nợ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và qua đó đe dọa đến sự tồn vong nhất là của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như làm mất nhiều việc làm. Tuy pháp luật TTDS của tất cả các nước thành viên đều tìm cách giải quyết vấn đề đòi nợ không có tranh chấp, trong đó phần lớn các nước áp dụng thủ tục yêu cầu thanh toán đơn giản, nhưng trong nội dung quy định cũng như hiệu quả áp dụng của chúng lại có sự khác nhau rất đáng kể..."

 

 

I. LỜI DẪN

Bài viết đề cập một loại thủ tục tố tụng dân sự (TTDS) chưa được pháp luật Việt Nam điều chỉnh, nhưng đã có truyền thống tại nhiều nước châu Âu và mới đây lại được Liên minh châu Âu phát triển thành một thủ tục TTDS đầu tiên áp dụng trực tiếp tại các nước thành viên. Thủ tục này có thể được chủ nợ áp dụng để đòi nợ một cách đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém khi con nợ không tranh chấp nhưng lại không chịu thanh toán.

Bài viết này được thực hiện nhân việc Nghị định số 1896/2006 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu về việc thiết lập một thủ tục tố tụng châu Âu về yêu cầu thanh toán được ban hành ngày 12/12/2006.[1] Một mặt, bài viết hướng tới các chuyên gia pháp luật TTDS Việt Nam nhằm cung cấp thông tin khoa học về một thủ tục TTDS mà họ có thể tiếp thu trong quá trình hoàn thiện pháp luật của mình. Mặt khác, bài viết còn hướng tới các doanh nghiệp Việt Nam đang vươn mình ra thị trường thế giới bao gồm thị trường châu Âu, nhằm cung cấp cho họ kiến thức pháp lý hữu ích giúp bảo vệ quyền lợi của mình trong môi trường pháp lý không quen thuộc.

II. KHÁI QUÁT

Liên minh châu Âu theo đuổi mục tiêu tạo lập và phát triển một khu vực tự do, an sinh và công lý, trong đó sự tự do di chuyển của con người được đảm bảo. Để từng bước tạo lập một khu vực như vậy, trong lĩnh vực hợp tác tư pháp về các vấn đề dân sự có yếu tố liên quốc gia, Liên minh này tiến hành các biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành thông suốt của khối thị trường chung. Trong phiên họp ngày 15-16/10/1999 tại Tampere, Hội đồng châu Âu (European Council) đã yêu cầu Hội đồng (Council) và Ủy ban (Commission) soạn thảo các văn bản pháp quy mới có tính thiết yếu đối với sự hợp tác tư pháp một cách thông suốt và cơ hội tiếp cận tư pháp tốt hơn của công dân, trong đó có nêu rõ cả việc xây dựng một thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán.

Việc soạn thảo và ban hành văn bản pháp quy này căn cứ theo Hiệp ước thành lập Liên Minh châu Âu (TEC), đặc biệt là Điều 61 mục c, và tuân theo thủ tục quy định tại Điều 251 TEC. Trải qua các giai đoạn của quá trình lập pháp, trong đó Ủy ban đóng vai trò là cơ quan chủ trì soạn thảo, Nghị định này đã được Hội đồng và Nghị viện châu Âu ban hành ngày 12/12/2006, có hiệu lực tại tất cả các nước thành viên trừ Đan Mạch kể từ ngày sau ngày công bố trên Công báo của Liên minh châu Âu (Official Journal [OJ]) và được bắt đầu áp dụng trực tiếp kể từ ngày 12/12/2008.

Nghị định này thiết lập một thủ tục TTDS hoàn toàn mới trên bình diện Liên minh châu Âu – nhưng không thay thế pháp luật quốc gia - áp dụng cho các yêu cầu thanh toán không có tranh chấp có yếu tố liên quốc gia trong phạm vi Liên minh.

Sự cần thiết có một thủ tục tố tụng như vậy xuất phát từ thực tế là việc con nợ chậm thanh toán khoản nợ không bị tranh chấp là một trong những nguyên nhân chính làm chủ nợ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và qua đó đe dọa đến sự tồn vong nhất là của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như làm mất nhiều việc làm.[2] Tuy pháp luật TTDS của tất cả các nước thành viên đều tìm cách giải quyết vấn đề đòi nợ không có tranh chấp, trong đó phần lớn các nước áp dụng thủ tục yêu cầu thanh toán đơn giản, nhưng trong nội dung quy định cũng như hiệu quả áp dụng của chúng lại có sự khác nhau rất đáng kể.[3] Ngoài ra theo pháp luật nhiều nước thành viên thì thủ tục loại này không được áp dụng hoặc trên thực tế không áp dụng được cho các vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Mục tiêu của Nghị định là đơn giản hóa và đẩy nhanh tiến độ của thủ tục tố tụng liên quốc gia về yêu cầu thanh toán các khoản nợ tiền không bị tranh chấp, giảm thiểu phí tổn tố tụng thông qua việc thiết lập một thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán của Liên minh cũng như tạo cơ sở để các Lệnh thanh toán châu Âu (European order for payment) được thi hành tại các nước thành viên mà không cần phải thông qua một thủ tục công nhận và cho thi hành tại quốc gia thi hành như cho đến nay (Điều 1).

Nhằm đánh giá hiệu quả của thủ tục tố tụng này, trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Nghị định được áp dụng Ủy ban phải trình một báo cáo chi tiết cho Nghị viện, Hội đồng và Ủy ban Kinh tế và Xã hội. Báo cáo này phải đánh giá hiệu quả của thủ tục tố tụng và tác động của nó đối với từng nước thành viên và kèm theo các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nếu có. Các nước thành viên có nghĩa vụ cung cấp cho Ủy ban các thông tin về việc áp dụng Nghị định tại nước mình, như thông tin về án phí, thời gian giải quyết, hiệu quả của thủ tục này cũng như về thủ tục tố tụng tương ứng theo luật quốc gia (Điều 32).

III. PHẠM VI ÁP DỤNG

1. Thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán của Liên minh châu Âu áp dụng đối với các vụ việc dân sự và thương mại có yếu tố liên quốc gia mà không phụ thuộc vào việc ở các nước thành viên các vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của loại tòa án nào; chúng không bao gồm các việc thuế, hải quan, hành chính cũng như trách nhiệm nhà nước phát sinh từ việc thực hiện quyền lực nhà nước (acta jure imperii). Thủ tục này không áp dụng đối với các vụ việc về tài sản trong hôn nhân, vụ việc thuộc lĩnh vực thừa kế, phá sản, hòa giải trong tố tụng, an sinh xã hội, đối với quyền yêu cầu từ quan hệ ngoài hợp đồng trừ phi các bên có thỏa thuận về việc một bên có nghĩa vụ thanh toán cho bên kia một khoản tiền cụ thể hoặc một bên công nhận nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền cụ thể hoặc đấy là các khoản nợ phát sinh từ sở hữu chung đối với bất động sản (Điều 2).

2. Tuy Nghị định này không loại trừ một cách rõ ràng các quyền yêu cầu thanh toán phát sinh từ quan hệ mà các bên có thỏa thuận trọng tài ra khỏi phạm vi áp dụng, nhưng điều đó không cho phép dẫn đến nhận định rằng có thể áp dụng thủ tục này đối với các yêu cầu thanh toán như thế,[4] bởi vì thỏa thuận trọng tài có hiệu lực luôn loại trừ thẩm quyền tòa án nhà nước.

3. Thủ tục này áp dụng đối với yêu cầu thanh toán một khoản tiền cụ thể đã đến hạn trả vào thời điểm nộp đơn yêu cầu ban hành Lệnh thanh toán châu Âu (Điều 4).

4. Tuy nhiên thủ tục này chỉ áp dụng đối với các yêu cầu thanh toán phát sinh từ các vụ việc có yếu tố liên quốc gia (cross-border cases).[5] Theo Nghị định này thì một vụ việc có yếu tố liên quốc khi ít nhất một bên thường trú hoặc thường xuyên lưu trú tại một nước thành viên khác với quốc gia của tòa án xử lý vụ việc.[6] Thời điểm để xác định một vụ việc có yếu tố liên quốc gia hay không là thời điểm tòa án nhận được đơn đề nghị ban hành Lệnh thanh toán châu Âu theo Nghị định này.

5. Nghị định này không thay thế các quy định pháp luật quốc gia về thủ tục tố tụng tương ứng, mà chỉ tạo thêm một khả năng lựa chọn cho chủ nợ (khoản 2 Điều 1). Như vậy, trong trường hợp vụ việc có yếu tố liên quốc gia thì chủ nợ có thể lựa chọn thủ tục tố tụng theo Nghị định này hoặc theo luật quốc gia, tùy thuộc thủ tục nào có lợi hơn. Đối với các vụ việc chỉ liên quan đến một nước thành viên duy nhất thì vẫn chỉ có thể áp dụng thủ tục tố tụng của nước đó. 

IV. THẨM QUYỀN TÒA ÁN

1. Thẩm quyền giải quyết vụ việc loại này tuân theo các quy định của pháp luật Liên minh, đặc biệt là Nghị định (EC) số 44/2001 của Hội đồng ngày 22/12/2000 (xem chú thích 6). Như vậy chủ nợ có thể đặt đơn yêu cầu ban hành Lệnh thanh toán châu Âu tại tòa án có thẩm quyền trong trường hợp chủ nợ khởi kiện theo thủ tục TTDS thông thường. Tuy nhiên các quốc gia cũng có thể quy định tòa án có thẩm quyền ban hành Lệnh thanh toán châu Âu khác đi so với Nghị định (EC) số 44/2001 và thông báo điều đó cho Ủy ban (khoản 1(a) Điều 29).

2. Theo Nghị định (EC) số 44/2001 thì thẩm quyền tòa án được xác định căn cứ vào các yếu tố liên quan đã có truyền thống trong pháp luật tố tụng của các nước thành viên. Theo đó tòa án có thẩm quyền chung là tòa án của một nước thành viên nơi bị đơn thường trú mà không phụ thuộc vào quốc tịch của bị đơn. Đối với bị đơn không thường trú tại một nước thành viên Liên minh thì thẩm quyền tòa án xác định theo luật của các nước thành viên, trừ phi tồn tại thẩm quyền riêng biệt (exclusive jurisdiction) theo quy định tại Điều 22 hoặc thẩm quyền theo thỏa thuận (prorogation of jurisdiction) theo quy định tại Điều 23.

Trong khi đó nơi thực hiện hợp đồng, nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại (trong quan hệ ngoài hợp đồng), hay nơi bị đơn có chi nhánh trong trường hợp khoản nợ phát sinh từ hoạt động của chi nhánh v.v. xác lập nên thẩm quyền đặc biệt (special jurisdiction) của tòa án (Điều 5).

V. TIẾN TRÌNH TỐ TỤNG

Tiến trình tố tụng theo Nghị định này được xây dựng hoàn toàn tương tự thủ tục tố tụng tương ứng trong pháp luật TTDS của Đức (Mahnverfahren), mà ở Đức thủ tục này lại đã được quy định ngay từ khi ban hành Bộ luật TTDS vào năm 1877.[7] Thủ tục tố tụng này được tiến hành theo các bước như sau:

1. Đơn

Khi nhận thấy yêu cầu của mình thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định thì chủ nợ (nguyên đơn) có thể đặt đơn yêu cầu ban hành Lệnh thanh toán châu Âu theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định. Theo mẫu đơn, bên cạnh các thông tin về chủ nợ, con nợ, khoản nợ được yêu cầu thanh toán và khoản lãi tính trên số nợ, nguyên đơn còn phải mô tả các loại bằng chứng làm căn cứ cho yêu cầu thanh toán, nêu lý do cho thấy tòa án mà mình gửi đơn đến có thẩm quyền cũng như khẳng định yếu tố liên quốc gia của sự việc (Điều 7 Nghị định). Nguyên đơn chỉ phải “mô tả“ (describe) chứ không phải nộp bằng chứng, vì trong thủ tục này tòa án hoàn toàn không xem xét nội dung sự việc. Việc mô tả bằng chứng chỉ nhằm để cho bị đơn biết rõ mình bị yêu cầu thanh toán về việc gì. Việc mô tả“ bằng chứng được thực hiện bằng cách đơn giản là đánh dấu chéo vào các loại bằng chứng được liệt kê trong mẫu đơn. Còn việc nêu lý do cho thấy tòa án mà mình gửi đơn đến có thẩm quyền cũng như khẳng định yếu tố liên quốc gia của sự việc là để tòa án có cơ sở xem xét thẩm quyền của mình.

Ngoài ra nguyên đơn còn phải tuyên bố trong đơn là đã kê khai “đúng như những gì mình biết và đúng với lương tâm của mình (true to the best of his knowledge and belief) và biết rằng lời khai cố ý sai sự thật có thể bị xử phạt theo luật của quốc gia có tòa án ban hành Lệnh thanh toán”. Quy định này tiếp nhận “nghĩa vụ trung thực” trong pháp luật tố tụng hệ luật Anh-Mỹ. Còn theo luật Đức thì sự cố ý khai sai nhằm đạt được một lợi thế hoặc lợi ích tố tụng nào đó là hành vi phạm tội lừa đảo trong tố tụng.

Trong đơn hoặc sau đó nhưng trước khi tòa án ban hành Lệnh thanh toán, nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án không chuyển vụ việc sang xét xử theo thủ tục TTDS thông thường (ordinary civil procedure) nếu bị đơn kháng lệnh. Nếu nguyên đơn không yêu cầu như vậy (bằng việc ký vào mẫu tương ứng ban hành kèm theo Nghị định) thì khi bị đơn kháng lệnh tòa án sẽ tự động chuyển vụ việc sang xét xử theo thủ tục TTDS thông thường. Quy định này nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của nguyên đơn, cũng như xem xét đến thực tế là trong nhiều trường hợp nguyên đơn sẽ không theo đuổi thủ tục TTDS thông thường vì lợi ích thu được có thể không tương xứng với chi phí bỏ ra. Tuyên bố này chỉ dành cho tòa án, còn bị đơn không được biết.

Mẫu đơn được ban hành kèm theo Nghị định rất chi tiết, nên chỉ có các thông tin về nguyên đơn, bị đơn, khoản nợ được yêu cầu thanh toán và khoản lãi tính trên số nợ là phải điền vào, còn đối với các thông tin khác thì nguyên đơn chỉ phải đánh dấu chéo vào những chỗ thích hợp. Cách thức điền đơn như vậy có thể giúp tòa án giải quyết vụ việc bằng một quy trình tự động hóa (Điều 8).

Nguyên đơn có thể trực tiếp hay thông qua người đại diện (bao gồm cả luật sư) đặt đơn. Nhưng thủ tục này không đòi hỏi nguyên đơn hay bị đơn phải được luật sư đại diện.

2. Sự xem xét của tòa án

Trên cơ sở các kê khai trong đơn, tòa án xem xét các điều kiện áp dụng Nghị định có được đáp ứng đầy đủ hay không cũng như yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở hay không (whether the claim appears to be founded). Mặc dù tòa án không xem xét nội dung sự việc, nhưng trên cơ sở các kê khai trong đơn tòa án tiến hành xem xét xem yêu cầu thanh toán của nguyên đơn “thoạt đầu” (prima facie) tỏ ra có cơ sở hay không, đặc biệt là trên cơ sở các loại bằng chứng được “mô tả” trong đơn, để loại trừ những yêu cầu rõ ràng không có cơ sở hoặc đơn không hợp lệ. Việc này không nhất thiết phải do thẩm phán thực hiện (xem mục 16 Lời nói đầu của Nghị định).

Trường hợp đơn có khiếm khuyết, đặc biệt là không được kê khai đầy đủ hoặc có sai sót thì tòa án có thể yêu cầu nguyên đơn bổ sung hoặc chỉnh sửa. Thời hạn bổ sung hoặc chỉnh sửa do tòa án ấn định và có thể được gia hạn (Điều 9). Trường hợp tòa án nhận thấy (trong phạm vi xem xét nói trên) chỉ một phần yêu cầu là có cơ sở thì tòa án thông báo cho nguyên đơn biết, đồng thời yêu cầu nguyên đơn chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu bị đơn thanh toán một khoản tiền (ít hơn) do tòa án đưa ra. Trường hợp nguyên đơn không chấp nhận thì tòa án bác toàn bộ đơn. Trường hợp nguyên đơn chấp nhận đề nghị của tòa án thì tòa ban hành Lệnh thanh toán châu Âu với yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền mà tòa đã đề nghị (Điều 10). Trong các trường hợp bổ sung, chỉnh sửa hay thay đổi đơn tòa án và nguyên đơn đều sử dụng mẫu ban hành kèm theo Nghị định.

3. Ban hành Lệnh thanh toán châu Âu

Khi nhận thấy tất cả các điều kiện áp dụng Nghị định được đáp ứng và đơn được điền đầy đủ thì Tòa án ban hành Lệnh thanh toán châu Âu. Việc này cần được thực hiện nhanh như có thể, thông thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đơn.[8]

Lệnh thanh toán (theo mẫu) có chứa đựng hướng dẫn cho bị đơn rằng, tòa án không xem xét nội dung sự việc mà chỉ ban hành Lệnh thanh toán trên cơ sở các kê khai của nguyên đơn, bị đơn có thể trả khoản tiền nêu trong Lệnh cho nguyên đơn hoặc kháng nghị tại tòa án ban hành Lệnh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt Lệnh, cũng như Lệnh sẽ có hiệu lực cưỡng chế thi hành nếu bị đơn không kháng lệnh, còn trường hợp kháng lệnh thì tòa án sẽ chuyển vụ việc sang xét xử theo thủ tục TTDS thông thường trừ phi nguyên đơn yêu cầu đình chỉ vụ việc. Lệnh thanh toán châu Âu được ban hành kèm theo một bản sao Đơn yêu cầu nhưng không kèm theo yêu cầu đình chỉ vụ việc (nếu có) của nguyên đơn.

4. Tống đạt

Các quy định tại Điều 13 (tống đạt có bằng chứng bị đơn đã nhận văn bản), Điều 14 (tống đạt không có bằng chứng bị đơn đã nhận văn bản) và Điều 15 (tống đạt tới người đại diện của bị đơn) đã nêu một danh mục toàn bộ các phương pháp tống đạt hợp lệ. Tuy nhiên các quy định này không phải là luật áp dụng trực tiếp, mà việc tống đạt thực hiện theo luật của nước mà ở đó Lệnh thanh toán châu Âu được tống đạt.[9] Các quy định của Nghị định về tống đạt chỉ đặt ra các tiêu chuẩn tối thiểu mà việc tống đạt theo luật quốc gia phải đáp ứng để được xem là hợp lệ. Điều đó có nghĩa là hình thức tống đạt theo luật quốc gia nơi Lệnh được tống đạt mà tòa án ban hành Lệnh lựa chọn phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của Nghị định.

Về mặt lý thuyết thì Lệnh không được tống đạt theo phương pháp đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu của Nghị định là không hợp lệ; bị đơn có thể chống lại việc thi hành Lệnh theo luật của quốc gia thành viên nơi thi hành. Tuy nhiên vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ là trường hợp một Lệnh được tống đạt không hợp lệ, nhưng bị đơn kháng nghị, thì liệu việc kháng nghị có dẫn đến hệ quả là vụ việc được chuyển sang thủ tục TTDS thông thường một cách hợp lệ hay không.

Liên quan đến vấn đề tống đạt Nghị định cũng có một sơ hở đáng kể là không quy định ngôn ngữ của Lệnh thanh toán châu Âu.[10] Thông thường tòa án sẽ ban hành Lệnh bằng ngôn ngữ chính thức của nước mình. Tuy nhiên Lệnh không thể được xem là được tống đạt hợp lệ nếu bị đơn hoàn toàn không hiểu ngôn ngữ của Lệnh mà tòa án đã sử dụng. Có thể khắc phục thiếu sót lập pháp này và để đảm bảo việc tống đạt Lệnh là hợp lệ tòa án nên ban hành Lệnh bằng ngôn ngữ của nước thành viên nơi lệnh được tống đạt hoặc bằng ngôn ngữ mà có cơ sở rõ ràng là bị đơn hiểu được.[11]

5. Kháng lệnh

Bị đơn có thể kháng lệnh tại tòa án đã ban hành Lệnh bằng cách sử dụng mẫu kháng lệnh[12] được tống đạt cùng với Lệnh. Kháng lệnh phải được gửi đi trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Lệnh được tống đạt.

Trong bản kháng nghị bị đơn chỉ tuyên bố là mình chống lại yêu cầu thanh toán, mà không cần phải nêu lý do. Nếu trước khi tòa án ban hành Lệnh mà nguyên đơn không yêu cầu đình chỉ thủ tục trong trường hợp bị đơn kháng lệnh thì khi bị đơn kháng lệnh tòa án sẽ chuyển vụ việc sang xét xử theo thủ tục TTDS thông thường.

Do thẩm quyền quốc tế của tòa án đối với thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán châu Âu tuân theo quy định về thẩm quyền quốc tế của tòa án trong các vụ việc dân sự và thương mại của Nghị định (EC) 44/2001 nên thông thường tòa án đã ban hành Lệnh cũng là tòa án có thẩm quyền xét xử theo thủ tục TTDS thông thường. Việc tòa án ban hành lệnh phải chuyển vụ việc sang tòa án khác chỉ xảy ra khi luật của nước tòa án quy định thẩm quyền lãnh thổ của tòa án ban hành Lệnh khác với thẩm quyền lãnh thổ của Tòa án xét xử theo thủ tục TTDS thông thường (xem mục IV.1 trên đây).

6. Tuyên bố hiệu lực cưỡng chế thi hành

Nếu bị đơn không kháng lệnh trong thời hạn thì tòa án sẽ tuyên bố Lệnh thanh toán châu Âu có hiệu lực cưỡng chế thi hành. Tòa án phải kiểm tra thời điểm tống đạt Lệnh để xác định ngày kết thúc thời hạn. Tòa án cần cộng vào thời hạn một khoảng thời gian hợp lý, bởi vì Nghị định quy định kháng lệnh phải được gửi đi trong thời hạn chứ không phải đến tay tòa án trong thời hạn. Tuy nhiên nếu luật của nước ban hành Lệnh mà còn đòi hỏi các điều kiện khác để có thể tuyên bố một quyết định của tòa án là có hiệu lực thi hành thì cũng còn phải tuân theo quy định đó (khoản 2 Điều 18).

Kháng lệnh được gửi đi sau thời hạn thì không có giá trị. Trường hợp kháng lệnh được gửi đi trong thời hạn nhưng đến tay tòa án sau khi tòa án đã tuyên bố Lệnh có hiệu lực cưỡng chế thi hành thì không được Nghị định đề cập đến. Nhưng theo quan điểm của các tác giả thì trong trường hợp này có thể áp dụng (hoặc áp dụng tương tự) quy định tại khoản 2 Điều 20. Bởi vì theo quy định này thì sau khi thời hạn kháng lệnh kết thúc, bị đơn có thể yêu cầu tòa án xem xét lại Lệnh, nếu căn cứ theo các điều kiện nêu trong Nghị định này thì có thể thấy rõ ràng rằng Lệnh đã được ban hành một cách sai trái (clearly wrongly issued).

Tòa án gửi cho nguyên đơn Tuyên bố hiệu lực cưỡng chế thi hành cùng với một bản sao Lệnh thanh toán châu Âu. Lệnh có hiệu lực cưỡng chế thi hành đương nhiên được công nhận và cho thi hành tại tất cả các nước thành viên Liên Minh (trừ Đan Mạch) mà không cần phải trải qua thủ tục công nhận và cho thi hành và cũng không có thể bị từ chối công nhận.

7. Không có quyền kháng nghị

Nghị định không quy định quyền kháng nghị chống lại Tuyên bố hiệu lực cưỡng chế thi hành. Điều đó có nghĩa là khi Tòa án đã tuyên bố Lệnh có hiệu lực cưỡng chế thi hành thì bị đơn không còn phương tiện pháp lý nào để chống lại nó nữa và phải thi hành hoặc chịu cưỡng chế thi hành.

Quy định tại Điều 20 cho phép bị đơn yêu cầu tòa án “xem xét lại” (review) Lệnh sau khi kết thúc thời hạn kháng lệnh chỉ áp dụng cho (1) trường hợp Lệnh được tống đạt mà không có bằng chứng bị đơn đã nhận văn bản và bị đơn không có lỗi trong việc kháng lệnh không đúng thời hạn, (2) trường hợp không kháng lệnh được do xảy ra trường hợp bất khả kháng hoặc tình huống bất thường mà không có lỗi và (3) trường hợp rõ ràng Lệnh được ban hành một cách sai trái (như nêu tại mục 6 trên đây). Như vậy việc “xem xét lại” này không phải là một loại quyền kháng nghị.

Nghị định cũng không quy định quyền kháng nghị của nguyên đơn đối với trường hợp tòa án không ban hành Lệnh hoặc không tuyên bố Lệnh có hiệu lực cưỡng chế thi hành. Chủ trương của các nhà lập pháp là không quy định quyền kháng nghị của nguyên đơn, nhưng cũng không loại trừ quyền yêu cầu xem xét lại quyết định bác đơn của chính tòa án bác đơn theo pháp luật quốc gia (Xem mục 17 Lời nói đầu của Nghị định). Trường hợp tòa án bác đơn yêu cầu ban hành Lệnh thì nguyên đơn vẫn có quyền đặt lại đơn khác tương tự hoặc có thay đổi đối với yêu cầu phát sinh từ cùng sự việc.

8. Hiệu lực cưỡng chế thi hành mà không cần được công nhận

Lệnh thanh toán châu Âu được tuyên bố có hiệu lực cưỡng chế thi hành thì có thể được cưỡng chế thi hành mà không cần phải được công nhận và cho thi hành ở các nước thành viên (Điều 19). Lệnh này cũng không cần phải được “xác nhận” như đối với các quyết định khác của tòa án theo Nghị định (EC) 44/2001, bởi vì đây là một quyết định của tòa án theo luật châu Âu, chứ không phải là quyết định của tòa án theo luật quốc gia được “châu Âu hóa”.

Nguyên đơn chỉ cần trình cho cơ quan thi hành án các văn bản nêu tại khoản 2 Điều 21, đó là một bản gốc Lệnh thanh toán châu Âu đã được tuyên bố có hiệu lực cưỡng chế thi hành và (nếu cần thiết) một bản dịch sang ngôn ngữ chính thức hoặc một trong các ngôn ngữ chính thức của nước thi hành án hoặc một ngôn ngữ mà nước này chấp thuận. Bản dịch phải được một người có thẩm quyền dịch các văn bản của cơ quan nhà nước ở một nước thành viên dịch và xác nhận. Các nước thành viên phải thông báo cho Ủy ban các ngôn ngữ mà họ cho phép sử dụng trong thủ tục này, trong đó ngoài (các) ngôn ngữ chính thức của quốc gia họ cũng có thể cho phép sử dụng một hoặc một số ngôn ngữ chính thức của các cơ quan Liên minh châu Âu (khoản 1(d) Điều 29).

Tòa án của nước thi hành án chỉ được phép từ chối thi hành Lệnh thanh toán châu Âu bởi lý do nêu tại Điều 22. Theo đó trên cơ sở đề nghị của bị đơn, tòa án từ chối thi hành nếu Lệnh “không dung hòa” (irreconcilable) được với một quyết định tòa án hoặc một Lệnh thanh toán được ban hành trước đó tại một nước thành viên hoặc một nước thứ ba[13], nếu quyết định tòa án hoặc Lệnh thanh toán đó (i) quyết định về cùng một sự việc giữa cùng các bên, (ii) có đủ điều kiện để được công nhận và cho thi hành tại nước thi hành án và (iii) bị đơn đã không thể (vì một lý do nào đó) trình bày vấn đề này trong thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán châu Âu tại nước ban hành Lệnh. Tất nhiên, tòa án tại nước thi hành Lệnh không được xem xét lại sự việc.

Tòa án của nước thi hành án cũng có thể quyết định tạm hoãn thi hành Lệnh, tuy nhiên chỉ trong trường hợp bị đơn đặt đơn yêu cầu xem xét lại Lệnh trong các trường hợp quy định tại Điều 20 (Điều 23; xem mục 7 trên đây).

 9. Thi hành Lệnh

Lệnh thanh toán châu Âu được tuyên bố có hiệu lực cưỡng chế thi hành được thi hành theo luật của nước thi hành Lệnh và có giá trị như các quyết định có hiệu lực cưỡng chế thi hành khác của nước này (khoản 1 Điều 21).

Tuy nhiên, Cơ quan thi hành án không được phân biệt đối xử với nguyên đơn nước ngoài (quốc tịch nước ngoài, kể cả quốc tịch của một nước thành viên khác hoặc của một nước thứ ba), hoặc nguyên đơn không thường trú hoặc không lưu trú thường xuyên tại nước thi hành án bằng cách buộc phải nộp một khoản tiền bảo đảm thi hành án hoặc một khoản tiền có chức năng như vậy cho dù nó được gọi là gì đi nữa. Quy định này áp dụng trực tiếp và vô hiệu các quy định của luật quốc gia mâu thuẫn với nó, và bởi vậy tạo ra một tiêu chuẩn pháp lý chung cho các nước thành viên về việc đối xử bình đẳng giữa nguyên đơn là người trong nước hay là người nước ngoài.

VI. MỘT SỐ LIÊN HỆ

1. Nghị định này dành cho các nước thành viên một khoảng thời gian 18 tháng để hoàn thành cơ sở hạ tầng pháp lý cho việc áp dụng Nghị định này, bao gồm việc ban hành các quy định về tòa án có thẩm quyền ban hành Lệnh thanh toán châu Âu (xem mục IV.1), về tòa án có thẩm quyền xem xét lại Lệnh trong các trường hợp nêu tại Điều 20 (xem mục V.7), các hình thức đặt đơn ban hành Lệnh được phép sử dụng (xem mục V.1), về ngôn ngữ sử dụng trong thủ tục cưỡng chế thi hành Lệnh quy định tại khoản 2 Điều 21 (xem mục V.8), và thông báo cho Ủy ban để Ủy ban công bố trên Công báo của Liên minh và các phương tiện thông tin phù hợp khác. Sau 2 năm kể kể từ ngày được thông qua Nghị định mới có hiệu lực áp dụng. Bởi vậy, vào thời điểm này chưa thể nói đến sự thành công của Nghị định. Nhưng bản thân việc ban hành Nghị định đã thể hiện là một thành công của công tác lập pháp của Liên minh. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên trong lĩnh vực TTDS quy định một thủ tục áp dụng trực tiếp tại các nước thành viên,[14] là minh chứng cho khả năng và nguyện vọng xích lại gần nhau của các hệ thống luật pháp khi các quốc gia cùng theo đuổi một mục đích chung là thiết lập một khu vực tự do, an sinh và công lý. Sự thành công về mặt lập pháp và thực tiễn thi hành của Nghị định có thể trở thành ví dụ tham khảo tốt cho các nhà lập pháp của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khi các nước này cũng đang vươn tới một thị trường và một khu vực thịnh vượng chung. Bởi vì với sự giao lưu thương mại, đầu tư ngày càng tăng, các chủ thể hoạt động kinh tế tại các nước này sẽ đứng trước những vấn đề tương tự. Họ cũng cần có những công cụ pháp lý đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém và hữu hiệu để thực hiện các quyền đòi nợ của họ. Và ở đây “kỷ luật trả nợ” cũng là một nhân tố quan trọng đối với sự tồn vong của một doanh nghiệp cũng như tác động tới khả năng bảo đảm việc làm cho người lao động.

2. Các doanh nghiệp từ các quốc gia trên thế giới đều có thể hưởng lợi từ Nghị định này với tư cách là chủ nợ, hay đều có thể trở thành “nạn nhân” của nó với tư cách là con nợ “chây lì” nếu như họ có công ty con, có chi nhánh, văn phòng đại diện hay bất cứ một loại đơn vị phụ thuộc nào hay chỉ cần có tài sản ở Liên minh châu Âu. Thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán châu Âu có khả năng sẽ được áp dụng phổ biến trong thực tiễn khi có hiệu lực áp dụng, như các thủ tục tương ứng trong pháp luật TTDS của hầu hết các nước thành viên Liên minh châu Âu. Với kiến thức về thủ tục tố tụng này các luật gia cũng có thể tiếp cận các thủ tục tương ứng trong pháp luật quốc gia một cách dễ dàng, bởi vì thủ tục tố tụng châu Âu này được xây dựng trên cơ sở tiếp thu và phát triển pháp luật của các nước thành viên Liên minh châu Âu.

3. Nhưng các tác giả đặt trọng tâm mối liên hệ của bài viết với pháp luật TTDS Việt Nam. Với số lượng các chủ thể hoạt động kinh doanh ngày càng lớn mạnh, số lượng các mối quan hệ tài sản trong hoạt động kinh doanh cũng ngày càng gia tăng và số lượng các quan hệ tài sản bị “nhiễu” cũng gia tăng. Trong đó tình trạng con nợ không thanh toán nợ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khó khăn tài chính cho các doanh nghiệp, có thể làm cho các doanh nghiệp chủ nợ phá sản, đe dọa đến việc làm của người lao động ở các doanh nghiệp này. Nhưng không phải bao giờ tranh chấp cũng là nguyên nhân của việc không thanh toán. Trong một báo cáo của Ủy ban châu Âu gửi đến Hội đồng và Nghị viện châu Âu[15] dựa trên kết quả của một nghiên cứu do Ủy ban châu Âu ủy nhiệm thực hiện thì tỷ lệ cố ý trì hoãn thanh toán nợ chiếm tới 35% các khoản nợ không được thanh toán. Đấy là các trường hợp con nợ không tranh chấp (không phủ nhận khoản nợ), nhưng vì một lý do nào đó không chịu thanh toán đúng hạn. Một cuộc điều tra tương tự ở Việt Nam hoàn toàn có thể cho thấy một tỷ lệ tương tự hoặc cao hơn. Chủ nợ sẽ phải làm gì trong trường hợp như vậy để “nhìn thấy” tiền của mình? Trong một nhà nước pháp quyền, mọi sự cưỡng chế hợp pháp đều chỉ có thể nhân danh nhà nước. Bởi vậy, các chủ nợ cần một quyết định của tòa án có hiệu lực cưỡng chế thi hành. Nếu không có một thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán như trình bày trên đây thì họ phải khởi kiện con nợ theo thủ tục như đối với trường hợp có tranh chấp. Một thủ tục chung như vậy thường sẽ phải kéo dài, phức tạp và tốn kém. Pháp luật hầu hết các quốc gia lại phân định thẩm quyền của tòa án theo giá trị tranh kiện và đòi hỏi có sự tham gia của luật sư ở tòa án cấp cao hơn. Điều đó làm phát sinh thêm chi phí và là chi phí bất hợp lý nếu yêu cầu thanh toán của chủ nợ hoàn toàn không bị tranh chấp. Một thủ tục kéo dài, phức tạp và tốn kém cũng còn là yếu tố kích thích con nợ cố ý trì hoãn thanh toán hoặc không thanh toán.

Như vậy một thủ tục tố tụng đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém sẽ giúp tăng cường kỷ luật thanh toán nợ trong hoạt động kinh tế, giúp chủ nợ thực hiện quyền yêu cầu của mình một cách có hiệu quả. Với một thủ tục như vậy nhà nước còn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là đảm bảo khả năng tiếp cận tư pháp một cách thuận lợi cho người dân cũng như doanh nghiệp. Ngược lại, chính một thủ tục phức tạp áp dụng cho cả các vụ việc đơn giản chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự quá tải của hệ thống xét xử.

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 đã tạo ra một bước phát triển mới của pháp luật tố tụng Việt Nam, đã khắc phục được nhiều bất cập bộc lộ trong giai đoạn phân mảnh thành các loại tố tụng khác nhau. Nhưng cũng do trước đó pháp luật tố tụng Việt Nam phân mảnh nên dường như tâm điểm của các cố gắng lập pháp sự hợp nhất các loại tố tụng đó lại. Bởi vậy, có lẽ một pháp luật TTDS thống nhất cho tất cả các vụ việc có bản chất dân sự, nhưng có tính đến sự khác biệt trong tính chất của chúng là mục tiêu tiếp theo trong tiến trình hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam. Bài viết về thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán châu Âu này muốn là một gợi mở đối với các nhà lập pháp Việt Nam trong trong tiến trình hoàn thiện pháp luật TTDS của mình.

 

PHAN HUY HỒNG*

TS. luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

THOMAS RAUSCHER**

**GS.TS, Giám đốc Học viện Luật tố tụng và tư luật châu Âu và nước ngoài, Khoa Luật Đại học Tổng hợp Leipzig (CHLB Đức)

STEFFEN PABST***

*** LL.M, Học viện Luật tố tụng và tư luật châu Âu và nước ngoài, Khoa Luật Đại học Tổng hợp Leipzig (CHLB Đức)
Nguồn:  Tạp chí Khoa học Pháp lý



[1] Regulation (EC) No 1896/2006 of the European Parliament and of the Council of 12 December 2006 creating a European order for payment procedure, OJ L 399, 30/12/2006, p. 0001–0032. Có thể lấy Nghị định này cũng như toàn bộ các văn bản liên quan bằng tất cả các ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Âu từ trang web: http://europa.eu

[2] Xem mục 6 Lời nói đầu của Nghị định (consideration point 6). Căn cứ trên các kết quả của một nghiên cứu  do Ủy ban ủy nhiệm thực hiện, trong một báo cáo gửi Hội đồng và Nghị viện mang tên “Các con đường có hiệu quả hơn dẫn đến các phán quyết và thi hành phán quyết tòa án trong Liên minh Châu Âu” (Towards greater efficiency in obtaining and enforcing judgments in the European Union, OJ C 33, 31.1.1998, p. 3, para. 38) cơ quan này đã ước tính tỷ lệ cố ý trì hoãn thanh toán ở Liên Minh Châu Âu là 35%.

[3] Hiện nay loại thủ tục như vậy được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự của 11 nước thành viên Liên minh Châu Âu (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hy Lạp, Luxembua, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Ý). Trong đó nổi tiếng hơn cả là thủ tục “injonction de payer” của Pháp (Điều 1405-1425 Code de procédure civile) và “Mahnverfahren” của Đức (Điều 688-703d Zivilprozessordnung).

[4] Xem Rauscher, Thomas (Chủ biên), Europisches Zivilprozessrecht (Kommentar), 2. Aufl., München 2006.

[5] Xem Điều 3 Nghị định. Ban đầu Ủy ban kiến nghị áp dụng thủ tục này đối với cả các vụ việc không có yếu tố liên quốc gia, nghĩa là vụ việc chỉ có mối quan hệ với một quốc gia duy nhất (xem Đề xuất của Ủy ban về việc ban hành một nghị định nhằm thiết lập một thủ tục tố tụng yêu cầu thanh toán Châu Âu [COM (2004) 173]). Nhưng sau đó Ủy ban rút lại đề xuất này, vì ý kiến thẩm định của bộ phận Legal Service thuộc Tổng thư ký của Hội đồng cho rằng một nghị định căn cứ theo Điều 61 mục c và Điều 65 TEC chỉ đảm bảo yêu cầu “liên quan đến thị trường chung” nếu nó giới hạn phạm vi điều chỉnh vào thủ tục tố tụng có yếu tố liên quốc gia (xem Council, Opinion of Legal Service, June 4th 2004, 10107/04).

[6] Nơi thường trú được xác định theo quy định tại Điều 59 và 60 Nghị định (EC) số 44/2001 của Hội đồng ngày 22/12/2000 về thẩm quyền tòa án và công nhận và cho thi hành phán quyết trong vụ việc dân sự và thương mại (OJ L12 January 16th 2001, p.1), sửa đổi lần cuối bởi Nghị định (EC) số 2245/2004 ngày 27/12/2004 (OJ L381 December 28th 2004, p. 10).

 

[7] Trường hợp quyền yêu cầu thanh toán phát sinh từ quan hệ có yếu tố liên quốc gia và chủ nợ có thể yêu cầu thanh toán theo luật tố tụng Đức thì việc chọn thủ tục tố tụng theo Nghị định này vẫn sẽ lợi hơn, nếu việc thi hành được tiến hành ở một nước thành viên khác của Liên minh, vì Lệnh thanh toán Châu Âu được thi hành mà không cần thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành ở các nước thành viên khác.

[8] Thời hạn do Nghị định đưa ra chỉ có tính chất “mục tiêu phấn đấu”, không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của Lệnh thanh toán được ban hành sau thời hạn này.

[9] Đấy có thể là luật của nước nơi bị đơn thường trú hay có trụ sở chính hoặc lưu trú thường xuyên.

[10] Trong khi đó Nghị định này lại có quy định về ngôn ngữ cho trường hợp thi hành Lệnh. Theo quy định tại Điều 21 thì bên yêu cầu thi hành Lệnh phải gửi cho cơ quan thi hành án cả bản dịch Lệnh sang ngôn ngữ chính thức hoặc một trong các ngôn ngữ chính thức của quốc gia nơi thi hành Lệnh, nếu Lệnh được ban hành bằng ngôn ngữ khác với (các) ngôn ngữ chính thức đó.

[11] Quan điểm của các tác giả trong: Rauscher, sđd.

[12] Tuy nhiên bị đơn cũng có thể sử dụng mẫu đơn điện tử để kháng nghị bằng các phương tiện truyền thông khác được phép sử dụng tại quốc gia của tòa án và tòa án đó được trang bị (khoản 4 Điều 16).

[13] “Quốc gia thứ ba” theo nghĩa của Nghị định này là một quốc gia không phải là thành viên của Liên minh châu Âu (và Đan Mạch).

[14] Về thẩm quyền của tòa án và về công nhận và cho thi hành án trong các việc dân sự và thương mại thì đã có Nghị định (EC) số 44/2001 ngày 22/12/2000.

[15] Xem chú thích 2.

Các tin tiếp
Bộ Luật Hồng Đức    (16/1/2009)
Các tin trước
Cơ quan công tố Australia    (17/12/2008)
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất