Bảo đảm tính pháp lý của Biên bản hoà giải ở cơ sở
11:33' 22/2/2009
Hòa giải ở cơ sở là một hình thức giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, phòng ngừa vi phạm pháp luật, góp phần ổn định trật tự xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội. Hòa giải có kết quả cũng sẽ hạn chế đơn thư khiếu kiện trong nhân dân.

Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1999 và Nghị định 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh là hai văn bản pháp luật quy định cụ thể phạm vi, chủ thể, phương hướng cũng như trình tự, thủ tục, kết quả của một cuộc hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, công tác hòa giải ở cơ sở đã phát sinh nhiều vướng mắc dẫn đến khó khăn cho công dân khi thực hiện quyền khiếu kiện đến các cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định của pháp lệnh hòa giải và nghị định hướng dẫn thì một cuộc hòa giải cơ sở không tiến hành theo một trình tự, thủ tục bắt buộc hoặc một khuôn mẫu thống nhất. Tùy tính chất vụ việc, điều kiện thực tiễn, quan hệ gia đình, xã hội... của các bên mâu thuẫn, tranh chấp mà tổ viên tổ hòa giải có thể lựa chọn, sử dụng hình thức, biện pháp hòa giải theo trình tự thích hợp. Và kết quả của hoạt động hòa giải cơ sở là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên để chấm dứt bất đồng trong vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ phù hợp với quy định của pháp luật. Cụ thể, kết quả hòa giải là vụ việc được giải quyết bằng thỏa thuận miệng hoặc có thể ghi thành biên bản, nếu các bên mâu thuẫn, tranh chấp yêu cầu. Quy định trên đã phát sinh nhiều vướng mắc khi đi đến kết quả của một cuộc hòa giải cơ sở. Điển hình là vụ việc bà Nguyễn Thị Hoa tranh chấp ranh giới đất với bà Trần Thị Thanh ở huyện Lai Vung, Đồng Tháp. Vụ việc được đưa đến UBND thị trấn hoà giải. Sau khi hòa giải, các bên không đi đến thống nhất nên UBND thị trấn lập biên bản hòa giải không thành gửi cho các đương sự. Trong biên bản thể hiện các nội dung tranh chấp giữa các đương sự và kết quả của cuộc hòa giải. Nhưng khi bà Hoa khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lai Vung thì phát hiện biên bản hòa giải được lập không bảo đảm về hình thức, thiếu quốc hiệu và chữ ký của bà Thanh nên bị coi là chưa hợp lệ. Tòa án yêu cầu bà Hoa phải nộp biên bản hòa giải hợp lệ với đầy đủ nội dung theo quy định. Đây là một trong những thủ tục bắt buộc trong hồ sơ khởi kiện, vì theo quy định của Luật Đất đai, đối với các tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp tiến hành hòa giải. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Như vậy biên bản hòa giải nêu trên không đúng quy định dẫn đến thủ tục khởi kiện của công dân gặp khó khăn.

Trường hợp khác là anh Trần Văn Lâm điều khiển xe gắn máy gây thương tích chị Trần Thị Thu. Vụ việc được đưa ra ban hòa giải UBND xã giải quyết và đi đến kết quả thỏa thuận: anh Lâm bồi thường cho chị Thu số tiền chữa trị vết thương. Vụ việc đã được UBND xã T.T hòa giải thành, hai bên đương sự đều nhận được biên bản hòa giải để làm cơ sở cho việc bồi thường của anh Lâm đối với chị Thu. Nhưng khi chị Thu đến yêu cầu anh Lâm thực hiện thì phát hiện biên bản hòa giải không có chữ ký xác nhận của anh Lâm dẫn đến biên bản hòa giải mất đi giá trị thỏa thuận của các bên yêu cầu hòa giải, gây ra khó khăn cho chị Thu và việc khiếu kiện sau này.    

Trên thực tế, hòa giải cơ sở được thực hiện hiệu quả sẽ góp phần hạn chế tranh chấp phức tạp về dân sự và các vi phạm khác, giảm áp lực xét xử cho Tòa án. Hệ thống pháp luật hiện hành cần có những hướng dẫn cụ thể hơn về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải; Hình thức, nội dung biên bản hòa để kết quả hòa giải có giá trị pháp lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
 
Thanh Xuân
Nguồn: Báo Người đại biểu Nhân Dân điện tử

Các tin tiếp
Các tin trước
Bộ Luật Hồng Đức    (16/1/2009)
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất