Vị trí, vai trò của tòa án trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
15:58' 30/5/2009

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bằng việc khẳng định tại Điều 2 Hiến pháp 1992, chủ trương này đã dần dần đi vào cuộc sống, đây là một văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, chi phối các quá trình xã hội và có ý nghĩa như một điều kiện tiên quyết cho việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước cũng như việc xây dựng và thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội.



Song song với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách tư pháp, để công tác tư pháp ngang tầm với những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền, đáp ứng kịp thời yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước, xu thế hội nhập, hợp tác, bang giao quốc tế.

Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”1, Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”2.

Tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (Được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/12/2001) quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nêu:

“Sau gần hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng, Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới. Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại...Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huy trên thực tế...”.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định lại một lần nữa “...Nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải ban hành và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương trình cải cách hành chính”.

Như vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Hai yếu tố này đều phải được thực hiện một cách song song với nhau, quan hệ biện chứng với nhau. Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp là điều kiện cần và đủ để tạo nên yếu tố thành công của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội lâu dài.

1/ Khái niệm về Nhà nước pháp quyền.

Khi bàn về Nhà nước pháp quyền, thì các Nhà khoa học pháp lý trên thế giới cũng như các nhà khoa học pháp lý của Việt Nam có những quan điểm khác nhau.

Theo GS.TSKH Đào Trí úc, thì “nói đến Nhà nước pháp quyền, trước hết người ta nói đến sự ngự trị của pháp luật trong đời sống xã hội và chính trị với tư cách là ý chí  của nhân dân, có giá trị phổ biến”3.

Theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt thì, “Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà trong đó mọi chủ thể (kể cả Nhà nước) đều tuân thủ nghiêm chỉnh, chịu phục tùng pháp luật-một pháp luật có tính pháp lý cao, phù hợp với lý trí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao cả nhất của xã hội, của con người”4.

Theo PGS.TSKH. Lê Cảm thì, “Nhà nước pháp quyền là tổ chức công quyền trong hệ thống chính trị của xã hội công dân (dân sự) được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như: Công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo thực sự những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn  minh thế giới, sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, sự ngự trị  của pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, sự phân công quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và chủ quyền của nhân dân”5.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm của các nhà khoa học nói trên, vì mỗi quan điểm có mỗi cách phản ánh riêng của nó. Tóm lại rút ra từ các quan điểm trên thì “Nhà nước pháp quyền là nhà nước luôn đề cao vai trò của pháp luật, quản lý xã hội bằng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có những công cụ hữu hiệu đảm bảo để pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh trong đời sống xã hội; mọi tổ chức, cơ quan và mọi cá nhân con người trong xã hội đều phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Pháp luật là nguyên tắc cơ bản nhằm tổ chức thực thi quyền lực nhà nước, tổ chức cuộc sống cộng đồng của toàn xã hội, điều hoà phối hợp tất cả các hành vi, ứng xử của các thành viên trong cộng đồng xã hội. Là Nhà nước mà trong đó một “xã hội công dân” văn minh và dân chủ, ở đó nhà nước và công dân là bình đẳng với nhau, đều tuân theo pháp luật, dựa trên sự điều chỉnh của pháp luật, là nhà nước trong đó các quyền tự do, dân chủ và lợi ích chính đáng của con người phải được pháp luật bảo vệ và tôn trọng; những hành vi đối xử với nhân dân thể hiện thái độ lộng quyền, hách dịch và quan liêu của bất kỳ cá nhân có chức vụ hay tổ chức nào đều bị xử lý, mọi hành vi xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ và những quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật”.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nhà nước với mong muốn dân chủ, nhân đạo và công bằng nhất, là nhà nước mà nhân dân lao động không chỉ là khách thể của quyền lực nhà nước mà còn là chủ thể tối cao của quyền lực đó. Nhà nước pháp quyền Việt Nam quy định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, pháp luật phải thực sự bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân và phục vụ nhân dân. Các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức xã hội và mọi công dân hoạt động trên cơ sở pháp luật và chịu sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật. Đặc biệt mọi công dân sống trong xã hội phải hiểu biết pháp luật, pháp luật không phải của riêng Nhà nước mà của toàn xã hội, công dân phải biết dùng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời hiểu biết pháp luật sẽ giúp cho bản thân ý thức và tuân thủ pháp luật được tốt hơn.

2/ Vị trí, vai trò của Toà án trong Nhà nước pháp quyền và tiến trình cải cách tư pháp:

Vị trí và vai trò của Toà án biểu hiện qua chức năng và thẩm quyền của Toà án được quy định trong Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các văn bản pháp luật khác.

Theo quy định của những văn bản pháp luật nêu trên thì Toà án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng xét xử của Toà án là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nó bao trùm và xuyên suốt quá trình hoạt động của Toà án. Điều 127 Hiến pháp 1992 quy định Toà án nhân dân tối cao, các Toà án Nhân dân địa phương, các Toà án Quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam; Điều 1 Luật tổ chức Toà án Nhân dân quy định Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.

Chỉ có Toà án mới có quyền nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam tuyên bố một người có tội hay vô tội. Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

Tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày  17/3/2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, quy định: Việc bồi thường thiệt hại được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ; nếu không thương lượng được thì người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 quy định trình tự, thủ tục tố tụng các vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến giai đoạn thi hành án hình sự. Với tư cách là một trong các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, Toà án có vị trí pháp lý rất quan trọng. Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp Toà án trong tố tụng hình sự.

Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có các đặc điểm cơ bản được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng mà tiêu biểu nhất là cơ quan Toà án dựa trên kết quả xét xử công khai, dân chủ tại phiên toà. Toà án thực hiện chức năng xét xử, là giai đoạn trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự ; ở giai đoạn này, Toà án với tư cách là một cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng xét xử vụ án, làm rõ bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì tội gì, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác liên quan đến vụ án, làm rõ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như người phạm tội...để từ đó có đủ cơ sở áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.

Toà án có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp, thể hiện qua các chức năng và nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, Toà án là cơ quan xét xử duy nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có Toà án mới có quyền tuyên bố một người có tội hoặc vô tội và áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp khác đối với họ.

Thứ hai, Toà án xét xử theo chế độ hai cấp, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Ngoài ra, Toà án còn thực hiện chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hay quyết định của Toà án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng...hoặc phát hiện có những tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án...để đảm bảo hoạt động xét xử của Toà án là phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai xảy ra.

Thứ ba, Toà án xét xử  tập thể và quyết định theo đa số. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp, tác động, làm ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của Toà án. Phán quyết  của Toà án là nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Bản án, quyết định của Toà án có tính cưỡng chế  Nhà nước nghiêm khắc nhất để đảm bảo hiệu lực thi hành.

Thứ tư, Trong tố tụng hình sự, mọi hoạt động điều tra, truy tố đều phục vụ cho quá trình xét xử, phục vụ cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Bản án, quyết định của Toà án làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Thứ năm, Khi nói đến quyền tư pháp là phải nói đến Toà án, Toà án là nơi biểu hiện một cách mạnh mẽ nhất, tập trung và rõ ràng nhất quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét xử.

Thứ sáu, Ngoài chức năng xét xử, Toà án còn có nhiệm vụ đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và mọi cá nhân. Trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án hình sự, Toà án có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, để từ đó có những kiến nghị, yêu cầu đối với cá nhân có trách nhiệm, tổ chức, cơ quan nhà nước có liên quan có những biện pháp hợp lý và kịp thời để chống và ngăn ngừa tội phạm mới phát sinh.

Thứ bảy, Sau khi ra quyết định thi hành bản án, Toà án còn có nhiệm vụ phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể, cơ quan Viện kiểm sát để theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giử, xét giảm thời gian thử thách đối với những người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo, công tác đặc xá.

Thứ tám, Trong các vụ án dân sự, lao động, kinh tế Toà án là nơi bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân khi có tranh chấp xảy ra, luôn cố gắng xây dựng mối đoàn kết trong nhân dân qua việc xét xử, hoà giải các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, hàn gắn và khôi phục lại một phần những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, giữ được truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta là đoàn kết, thân ái, giúp đỡ, chín bỏ làm mười.

Như vậy, Toà án có một vai trò, vị trí quan trọng trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Toà án là nơi thực hiện công lý và công bằng xã hội thông qua chức năng xét xử. Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức Toà án nhân dân thì: Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự  và nhân phẩm của công dân.

Toà án là nơi biểu hiện quyền lực Nhà nước mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất, mọi phán quyết của Toà án có tính cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước. Theo quy định tại Điều 136 Hiến pháp 1992 quy định: Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nhà nước đã tạo ra một hệ thống thiết chế, chế tài hỗ trợ cho bản án, quyết định được thực hiện trong thực tế cuộc sống, đặc biệt trong Bộ luật hình sự Việt nam hiện hành quy định ba tội phạm liên quan đến những phán quyết của Toà án, đó là tội “không chấp hành án” (Điều 304), tội “ không thi hành án” (Điều 305), và tội “cản trở việc thi hành án” (Điều 306).

Toà án là nơi thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả nhất, bằng việc đưa lên phương tiện thông tin đại chúng các phiên toà xét xử, tổ chức xét xử lưu động ngoài tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, còn có tác dụng tuyên truyền, giới thiệu, giải thích cho quần chúng nhân dân về pháp luật để mọi người hiểu biết thêm về pháp luật và hướng họ tới “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Như vậy, qua nghiên cứu lý luận về Nhà nước pháp quyền, qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ của Toà án thì Toà án không chỉ là một cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn chính là cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nó điều hoà, chi phối các quá trình xã hội và các quan hệ xã hội, giữa các cơ quan Nhà nước với nhau, giữa cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước với công dân và giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội.

Việc nghiên cứu những lý luận cơ bản về Nhà nước pháp quyền và vị trí, vai trò của Toà án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúp cho tiến trình cải cách tư pháp của Nhà nước ta đi đúng hướng, đúng trọng tâm và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó nhất thiết phải đề cao hơn nữa hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung và Toà án nói riêng, để các cơ quan này hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và phục vụ nhân dân. Như Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân”.

Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 6/2007 
 

1. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 129.

2. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 131.

3, 4, 5. PGS. TSKH Lê Cảm, Nhà nước pháp quyền trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự. Tạp chí Kiểm sát số 17/2006, Tr.11.

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất