Đổi mới quan niệm về an ninh:
Thế giới ngày nay đang đứng trước nhiều vấn đề môi trường mang tính chất quy mô toàn cầu. Những tổn thất về con người, vật chất do môi trường suy thoái gây ra vượt quá những tổn thất về người và của do các biến động xã hội và chiến tranh: 20 triệu người chết hàng năm vì các nguyên nhân môi trường so với 20 triệu người chết trong xung đột vũ trang từ sau 1945 đến nay. Theo dự báo, trong mấy chục năm sắp tới sự uy hiếp của các vấn đề về môi trường sẽ còn vượt xa tất cả những uy hiếp về quân sự. UNEP (1996) cho rằng hiện có khoảng 25 triệu người dân tị nạn do môi trường và số này sẽ lên ít nhất 50 triệu người vào đầu thế kỷ 21.
Trong những năm 80 và 90, toàn cầu đã xảy ra nhiều cuộc xung đột quốc tế và khu vực có liên quan đến môi trường, sinh thái. Rất nhiều vấn đề môi trường có thể đe doạ hoà bình và an ninh thế giới như sự biến đổi khí hậu, sự ô nhiễm xuyên biên giới, sự tranh chấp do khan hiếm tài nguyên thiên nhiên v.v.. Những vấn đề bất đồng giữa các quốc gia về phân chia tài nguyên, tranh chấp môi trường, khủng bố sinh thái, xâm lược sinh thái,... có thể leo thang thành những xung đột quân sự. Hai trong số những vấn đề nhậy cảm nhất hiện nay là việc phân chia các dòng sông xuyên biên giới và tị nạn do môi trường bị suy thoái.
Trong các tài liệu về quan hệ quốc tế ngày càng phổ biến rộng rãi quan điểm cho rằng phải định nghĩa lại vấn đề an ninh - khái niệm an ninh hiện đại không chỉ là an ninh quân sự truyền thống mà phải bao gồm cả phương diện môi trường và kinh tế.
Năm 1992, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc chỉ rõ. "Nguồn gốc của sự bất ổn định về kinh tế, xã hội, nhân văn và sinh thái đã trở thành mối đe doạ đối với hoà bình và ổn định".
Mỹ là một trong những nước đầu tiên trên thế giới nhận ra nhu cầu phải sửa đổi quan niệm về An ninh Quốc gia (ANQG). Năm 1991, Tổng thống Bush đưa ra sáng kiến thừa nhận An ninh Sinh thái (ANST) là một bộ phận cấu thành của ANQG. Năm 1994, chính quyền Bin-Clintơn chấp nhận quan niệm về ANST là một bộ phận của chiến lược chung của ANQG. Cuối 4/1996, Ngoại trưởng Mỹ Christopher đã nói rõ hai lợi ích cơ bản của Mỹ trong các vấn đề môi trường quốc tế: "Vấn đề môi trường có ảnh hưởng lâu dài đối với lợi ích quốc gia của chúng ta theo hai hướng: Thứ nhất, sức mạnh môi trường vượt qua mọi biên giới và đại dương đe doạ trực tiếp sức khoẻ, sự thịnh vượng và việc làm của dân chúng Mỹ. Thứ hai, giải quyết các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên là việc làm hết sức quan trọng để đạt tới sự ổn định chính trị, kinh tế, đồng thời để theo đuổi mục tiêu chiến lược của chúng ta trên toàn cầu".
Chiến lược ANQG (1996) của Mỹ kết luận rằng sự tăng trưởng dân số và các sức ép từ vấn đề môi trường sẽ bùng lên thành rối loạn xã hội quy mô lớn làm cho thế giới rất dễ bị tổn thương bởi sự bất đồng quốc tế nghiêm trọng. Gần đây, "Chiến lược An ninh Quốc gia Liên bang Nga" do quyền tổng thống Nga-Puchin ký ngày 10/1/2000 phần nói về "các nguy cơ đối với ANQG của Liên bang Nga" đã chỉ rõ nguy cơ tình trạng sinh thái trong nước xấu đi và các tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt... Chiến lược nhấn mạnh: Với nước Nga, nguy cơ này càng đặc biệt to lớn bởi phát triển nặng về các ngành công nghiệp nhiên liệu - năng lượng cũng như nền tảng lập pháp về bảo vệ thiên nhiên chưa phát triển, thiếu hoặc sử dụng ở mức hạn chế các công nghệ phù hợp với yêu cầu bảo vệ thiên nhiên, văn hoá sinh thái còn ở mức thấp... Chiến lược ANQG của Liên bang Nga cũng đã nêu rõ: Một trong những nhiệm vụ chủ yếu để bảo đảm ANQG là "căn bản cải thiện tình hình sinh thái trong nước" với các hướng ưu tiên về hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực này.
An ninh môi trường (ANMT):
1-An ninh Môi trường là "Trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng đảm bảo điều kiện sống an toàn của con người. Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các nguyên nhân tự nhiên (thiên tai), do hoạt động của con người (gây suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên...) hoặc do phối hợp cả hai nguyên nhân trên".
2-Đặc trưng của ANMT:
- ANQS:
Những mối đe doạ đa dạng.
Kẻ thù là "người khác".
Gây thiệt hại có dụng ý.
Chẳng bên nào có lợi.
- ANMT
Những mối đe doạ tách biệt, cụ thể.
Kẻ thù là "chính chúng ta".
Gây thiệt hại vô ý.
Dài hạn.
Lợi ích chung.
Suy thoái môi trường dẫn đến sự cố môi trường, thảm hoạ môi trường là một quá trình diễn ra từ từ, có thể trong vài năm, hàng chục, hàng trăm hoặc hơn nữa. Các mối đe doạ "phi quân sự" này thường ít được con người nhìn nhận rõ ràng và nếu như không nhận ra thì điều nguy hại là đến một lúc nào đó khó có thể đảo ngược được tình hình, ví như sự biến đổi khí hậu do ô nhiễm môi trường, thủng tầng ôzôn, mưa axít... Chính vì vậy mà điều khuyến cáo có ý nghĩa quan trọng đối với con người là nếu không đổi mới nhận thức thì con người sẽ mắc phải hội chứng "ếch luộc": Ếch bị đặt trong nồi và bị đun nóng từ từ, ếch không cảm nhận được nhiệt độ đang tăng dần cho đến khi bị "luộc chín". Hậu quả của quá trình suy thoái môi trường đối với con người cũng tương tự như hội chứng này.
3-Mất an ninh môi trường do thiên tai:
Thiên tai là những biến đổi của thiên nhiên làm thiệt hại đến con người và sản xuất.
Để giảm nhẹ, hạn chế những thiệt hại do thiên tai gây ra, con người tìm cách phòng tránh là chủ yếu, bằng việc tăng cường khả năng dự đoán, dự báo, chung sống thích nghi, quy hoạch, thiết kế công trình thích ứng, ứng cứu khi thiên tai xảy ra v.v..
Nguyên nhân xảy ra thiên tai ở một mức độ nào đó còn do hoạt động của con người gây nên hoặc do chính con người dẫn tới, ví dụ: Chặt phá rừng, làm tăng hậu quả hạn hán, lũ lụt... (Mấy năm gần đây số vụ thiên tai trên trái đất xảy ra ngày càng nhiều, tổn thất đối với xã hội cũng nghiêm trọng).
Năm 1995 có hơn 600 vụ thiên tai nghiêm trọng xảy ra toàn cầu làm hơn 18.000 người chết, thiệt hại về kinh tế lên tới 180 tỷ đôla so với năm 1994 là 580 vụ, 10.150 người chết, thiệt hại về kinh tế 60 tỷ đôla. Năm 1998, các thiên tai trên thế giới đã gây tổn thất chung về vật chất lên tới 93 tỷ đôla so với 60 tỷ đôla năm 1996).
Điều nghiêm trọng là trong một thời điểm nhất định và trong một phạm vi nhất định, thiên tai xảy ra có thể làm cho Chính phủ mất hết khả năng chính trị, kinh tế và quân sự, làm cho vùng đó rơi vào trạng thái vô Chính phủ (Báo cáo của Quốc hội Mỹ).
4-Mất An ninh môi trường do các hoạt động của con người.
4.1. Khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên
-Các tài nguyên không thể phục hồi đang cạn dần. Chẳng hạn, theo ước tính của các chuyên gia Liên hợp quốc, giọt dầu cuối cùng của các mỏ dầu đang hoạt động trên trái đất sẽ được hút lên vào năm 2045 đến 2050. Sau nguy cơ về dầu mỏ, loài người đang và sẽ phải đối mặt với nguy cơ phổ biến là thiếu các nguồn nước sạch cần thiết cho duy trì và phát triển đời sống kinh tế, xã hội của mình. Nguy cơ này xuất phát từ các lý do: nước ngọt là nguồn tài nguyên có hạn và phân bố không đều (chỉ có 2,53% tổng lượng nước trên trái đất là nước ngọt có thể dùng cho sản xuất và sinh hoạt của con người); Sự ô nhiễm các nguồn nước đang có nguy cơ gia tăng và nhu cầu tiêu dùng nước sạch cũng ngày càng tăng do sự gia tăng dân số và nhu cầu phát triển kinh tế.
- Các tài nguyên sinh học bị cạn kiệt và đa dạng sinh học bị suy giảm.
Những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, thu hẹp, phá huỷ nơi sinh sống của các giống loài và đặc biệt là sự khai thác, săn bắt quá mức có tính huỷ diệt (sử dụng mìn, xung điện, chất độc, v.v..) làm cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh học và diệt chủng các loài. Sự tuyệt chủng các loài sẽ làm mất đi nguồn tài nguyên quan trọng cho nhiều ngành công, nông nghiệp trong đó có ngành dược phẩm (80% dược phẩm trong các nước đang phát triển và 40% dược phẩm trong các nước phát triển có nguồn gốc từ thiên nhiên) đồng thời tạo ra sự mất cân bằng sinh thái dẫn đến suy thoái môi trường nghiêm trọng.
4.2. Ô nhiễm đất, nước, không khí, sinh học do các hoạt động sản xuất công, nông, lâm nghiệp, y tế, giao thông vận tải... và sinh hoạt của con người:
- Sự cố nhà máy điện nguyên tử Chécnobư của Liên Xô 1986 làm chết hơn 30 người, bị thương hàng trăm người, tổn thất kinh tế 15 tỷ đôla, 135 nghìn dân phải rời bỏ nhà cửa, quê hương đến cư trú ở vùng khác. Tính đến cuối thế kỷ 20 đã có hơn 9 vạn người chết vì các bệnh phóng xạ do sự cố này. Các chuyên gia dự tính nếu muốn làm sạch môi trường sau sự cố Chécnobưn thì phải mất 100 năm và tốn kém khoảng vài chục tỷ đôla).
(-Tháng 12/1984, Nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu thuộc công ty Liên hiệp hoá chất Mỹ đóng tại Bopal (ấn Độ) đã để khí độc thoát ra ngoài làm chết hơn 2500 người, hơn 1000 người bị mù cả hai mắt và hơn 20 vạn người bị ảnh hưởng đến sức khoẻ. Sự cố này có thể so với một cuộc chiến tranh quy mô lớn trong thời bình.
-Vụ "thuỷ ngu" ở Nhật Bản: hàng ngàn ngư dân mắc chứng bệnh thần kinh do ăn phải tôm, cá biển bị nhiễm thuỷ ngân do các nhà máy thải ra biển).
4.3. Thay đổi cân bằng loài
Các tác động có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo gây ra sự biến động số lượng loài làm tăng hoặc giảm số lượng cá thể của một loài sinh học nào đó một cách quá mức, vượt quá khả năng tự điều chỉnh sẽ phá vỡ cân bằng loài dẫn đến tai biến sinh học. (Chiến dịch tiêu diệt chim sẻ ở Trung Quốc vào thập kỷ 60 đã làm cho sản lượng lương thực bị sút giảm vì sâu bệnh sau đó vài năm. ở Việt Nam dịch ốc bươu vàng, dịch chuột đã gây tổn hại rất nhiều tiền của, công sức vẫn chưa dập tắt được triệt để).
4.4. Tạo ra và sử dụng các sinh vật biến nạp di truyền (GMO)
Khả năng tạo ra các sinh vật bằng cách thay đổi hệ thống di truyền tự nhiên: thay thế gen cũ, lắp ghép hoặc bổ sung những gen mới có một số tính chất có lợi cho con người nhờ công nghệ gen đã làm cho công nghệ này thực sự trở thành một lực lượng sản xuất có ảnh hưởng trên quy mô toàn cầu. Nhiều nước đã ứng dụng kỹ thuật GMO trong sản xuất nông nghiệp với quy mô ngày càng lớn. Song, một vấn đề được đặt ra hiện nay là người ta vẫn chưa thể kết luận được đầy đủ về tính an toàn của các GMO đối với môi trường và sức khoẻ của con người khi đưa vào sản xuất và sử dụng chúng. Đây là mặt trái của công nghệ gen.(Trên thế giới có nhiều cuộc biểu tình của dân chúng phản đối việc nhập khẩu các loại lương thực, thực phẩm biến đổi gen.
Ở Braxin những đàn ong mật châu Phi được biến đổi gen đã làm tăng khả năng tạo mật nhưng nằm ngoài dự kiến, những con ong này đồng thời đã làm tăng độ độc của nọc. Chúng sinh sản nhanh và lan truyền khắp mọi miền châu Mỹ. Riêng tại bang Texas (Mỹ), trong vòng vài năm loài ong độc này đã đốt chết khoảng 15 nghìn người. Để ngăn chặn sự phát triển của loài ong độc này người ta đã bỏ ra hàng chục triệu đôla nhưng vẫn như muối bỏ biển).
4.5. Vũ khí sinh học
Vũ khí sinh học đặc biệt nguy hiểm vì dễ chế tạo, dễ sử dụng, giá thành thấp và hậu quả gây ra vô cùng khủng khiếp (ví dụ chỉ cần vài chục gam vi khuẩn dịch hạch hoặc nhiệt thán đựng trong những ống thuỷ tinh nhỏ có thể giấu kín trong một chiếc bút máy, sau ve áo v.v.. khi tung ra có thể làm cho hàng nghìn người mắc bệnh trong một thời gian ngắn).
Việc phát hiện và ngăn chặn vũ khí sinh học hiện nay còn rất hạn chế. Nhiều nước trên thế giới đã tổ chức nghiên cứu và luyện tập chống lại vũ khí này. ở Pháp, các cơ quan như Tổng cục An ninh đối Ngoại (DGSE); Tổng cục An ninh Lãnh thổ (DST); Tổng cục Tình báo (RG), Quân đội, Cảnh sát đã tập dượt các phương án phát hiện và ngăn chặn các vũ khí sinh học. Các phòng thí nghiệm Y, Sinh học cũng được khuyến cáo quản lý chặt chẽ các loại vi sinh vật nguy hiểm nhằm hạn chế đến mức tối đa việc rò rỉ khiến cho các tác nhân gây bệnh này có thể rơi vào tay bọn khủng bố.
5. Mối liên hệ giữa An ninh Môi trường - An ninh Quốc gia và An ninh Quốc tế.
5.1. Tranh chấp tài nguyên
Sự khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên có thể gây tác động qua lại với các nhân tố khác như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và trí tuệ gây ra tình trạng bất ổn định, đặc biệt là ở những nước đang phát triển. Sự bất ổn định có liên quan đến vấn đề môi trường ngày càng có nhiều khả năng diễn ra ở các quốc gia trong khu vực chiến lược then chốt hoặc dẫn đến tình trạng khẩn cấp, phức tạp về nhân quyền đi kèm làn sóng di cư ồ ạt.
- Tranh chấp tài nguyên dầu mỏ: Tháng 8/1990, Irắc cho quân đội xâm lược Côoét để giành nguồn tài nguyên dầu mỏ. Quân đội của nhiều nước đứng đầu là Mỹ trong 42 ngày của chiến tranh vùng Vịnh đã đánh đuổi được quân Irắc về nước. Trước khi rút lui, quân Irắc đã phá huỷ hơn 700 giếng dầu của Côoét gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng làm khí hậu ở Bắc Bán cầu thay đổi. Mới đây, xung đột sắc tộc giữa các nhóm ở Nigiêria mà nguyên nhân là do tranh dành dầu mỏ.
- Tranh chấp tài nguyên nước ngọt: Hiện nay, trên thế giới có trên 200 con sông chính, hơn 70% trong số đó là do 2 hay nhiều nước cùng sử dụng. Sự khan hiếm tài nguyên nước ngọt có thể là tiềm tàng dẫn đến những xung đột quốc tế. Cuộc chiến tranh Israel-ảrập (1967) là hậu quả của những căng thẳng ngày càng tăng giữa hai nước sau cuộc tranh chấp nguồn nước từ năm 1965-1966. Phần lớn các cuộc tranh chấp về quyền sử dụng và chất lượng của các nguồn nước đã được giải quyết thông qua con đường ngoại giao như các cuộc tranh chấp giữa Hungari và Cộng hoà Slovak; Cameroon và Nigieria, Burkina Faso và Mali; Sudan, Ai cập và Ethiopia; Thổ Nhĩ Kỳ và Irắc, Sulia;
Pháp và Tây ban Nha.
Một câu hỏi được đặt ra là các biện pháp hoà bình có còn phát huy tác dụng trong việc giải quyết các cuộc tranh chấp về nguồn nước khan hiếm trong tương lai không?
ở Việt Nam: 2/3 dân số sống trên lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long. Nếu hai con sông này bị ô nhiễm hoặc bị cạn nước do các nước sử dụng chung dòng sông gây ra thì điều gì sẽ xảy ra?
5.2. Tị nạn môi trường
Suy thoái môi trường là một trong những nguyên nhân gốc rễ của di cư ồ ạt trong phạm vi quốc gia lẫn quốc tế.
Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã từng coi sự di cư xuyên biên giới của một lượng lớn người tị nạn là một đe doạ "phi quân sự" đến hoà bình và an ninh thế giới - sự bùng nổ tị nạn do suy thoái môi trường cũng chẳng kém gì do mất ổn định chính trị. (-khu vực Sahara của Châu Phi có tốc độ sa mạc hoá đất đai nhanh nhất trên toàn cầu. Năm 1989, 10 triệu người Châu Phi thuộc 9 quốc gia phải rời bỏ quê hương và trở thành nạn nhân của môi trường. - Trung Quốc: 6 triệu trong tổng số 120 triệu dân di cư nội bộ vì lý do môi trường).
Suy thoái môi trường ở Bangladesh đã đẩy một lượng lớn người tị nạn xuống vùng Assam của Ấn Độ gây ra cuộc xung đột sắc tộc căng thẳng.
Ở Việt Nam trong thời gian qua có hàng trăm nghìn dân nghèo di cư từ các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có bao nhiêu phần trăm trong số đó di cư vì lý do môi trường?
Tội phạm môi trường:
Tội danh "Tội phạm môi trường" (TPMT) mới chỉ xuất hiện trong Bộ Luật hình sự của một số nước (Mỹ, Anh, Pháp...) trong bộ luật hình sự của Liên bang Nga (1996) có một chương riêng - "Chương 26: Các tội về sinh thái" gồm 17 tội danh. Trong bộ Luật hình sự của CHXHCN Việt Nam có một số điều khoản quy định tội phạm và hình phạt liên quan đến môi trường nằm rải rác trong các khung tội phạm - "Các tội xâm phạm an toàn công cộng", "Các tội phạm về kinh tế", "Các tội phạm về quản lý hành chính". Mới đây, trong Bộ Luật hình sự sửa đổi (1999) của nước ta đã xây dựng một chương riêng - "Chương 17: Các tội phạm về môi trường" gồm 10 điều quy định về tội phạm môi trường. Những điều quy định này còn nhiều bất cập, thiếu tính khả thi và đang được tiếp tục sửa đổi nhằm hoàn chỉnh để có thể trình Quốc hội thông qua.
Ngày nay, tội phạm môi trường đã vượt quá phạm vi quốc gia. Năm 1992, tại Hội nghị Lyon (Paris), Tổ chức cảnh sát hình sự Quốc tế (Interpol) lần đầu tiên đã đề xuất một kế hoạch hành động nhằm triển khai trấn áp tội phạm môi trường. Năm 1993, Interpol quyết định tổ chức một số tiểu ban chống vận chuyển lậu chất thải, chống buôn lậu chất phóng xạ qua biên giới, chống buôn bán trái phép các loài động, thực vật hoang dã...
Dưới áp lực của dân số, tăng trưởng kinh tế, hậu quả của chiến tranh... môi trường nước ta đã và đang bị suy thoái một cách nhanh chóng. Mặc dù nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhưng vẫn chưa cải thiện được tình hình một cách đáng kể. Nhiều hành vi phá hoại môi trường ở mức nghiêm trọng vẫn chưa ngăn chặn được như nạn phá rừng, nạn khai thác thuỷ sản bằng chất độc, xùng điện, chất nổ... Nhiều tội phạm môi trường vẫn chưa bị trừng trị thích đáng. Một trong những nguyên nhân của việc quản lý và bảo vệ môi trường của nước ta chưa đạt hiệu quả cao là do pháp luật trong lĩnh vực này còn chưa đầy đủ cần được nghiên cứu, bổ xung và hoàn thiện. Để nâng cao hiệu quả của pháp luật về bảo vệ môi trường cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, giám sát việc thi hành luật cũng như xử phạt kịp thời, công minh, đúng pháp luật mọi hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Tính trong cả nước, từ 1992-1997: Phát hiện 973 vụ sử dụng chất nổ đánh cá làm 130 người chết, 150 người bị thương. Đã đưa 47/973 vụ ra truy tố trước pháp luật.
Từ 1996-1997, bắt và xử lý 13.601 vụ dùng xung điện và 70 vụ dùng chất độc khai thác thuỷ sản.
Từ 5/1997-5/1998; phát hiện 39.489 vụ vi phạm pháp luật về rừng nhưng chỉ có 206 vụ khởi tố về hình sự (số liệu của Cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT).
Trên đây chỉ là số vụ bị các cơ quan chức năng bắt và xử lý còn thực tế xảy ra lớn hơn nhiều).
Việc khai thác rễ hồi, móng trâu , bò, dầu xá xị... và săn bắt ráo riết các loại động vật có giá trị kinh tế cao như têtê, rắn, rùa, kỳ đà và cả các loại như ếch, baba, mèo... xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông, Thái Lan và nhất là Trung Quốc những năm qua và hàng loạt các vấn đề khác như nhập ốc bươu vàng, cá hổ, sâu sống làm thức ăn cho chim cảnh, giống ngô trồng không có hạt, khoai tây "ghẻ", các loại hoá chất độc hại (thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh trưởng...) không rõ nguồn gốc... dễ dẫn đến phát sinh dịch bệnh gây tác hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, có những trường hợp dùng hoá chất độc hại trong chế biến và bảo quản lương thực, thực phẩm đã gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của nhân dân. Những vấn đề này cần được tuyên truyền, giáo dục và có các biện pháp ngăn chặn kịp thời. Thời gian qua vấn đề an toàn thực phẩm ở nước ta có nhiều điều đáng loa ngại: tồn lượng các loại hoá chất bảo vệ thực vật trên rau, quả rất cao vượt quá mức độ cho phép, có nhiều người bị ngộ độc thức ăn phải những loại rau quả này. Một số trường hợp còn dùng chất độc hại như phèn chua để ướp cá, focmon để giữ được lâu các loại nước mắm, tương ớt, bánh phở...
Một số đề xuất:
1- Tổ chức nghiên cứu, biên soạn tài liệu, giáo trình chuyên đề "An ninh môi trường và Tội phạm môi trường" để tuyên truyền, giáo dục, đưa vào chương trình tập huấn, đào tạo trong các trường Công an nhân dân.
2- Xây dựng, tổ chức lực lượng phòng chống vi phạm và tội phạm môi trường.
3- Tiến hành nghiên cứu thử nghiệm một số vấn đề về An ninh môi trường. Ví dụ: Buôn bán động, thực vật hoang dã qua biên giới, an ninh môi trường biên giới, việc nhập lậu các giống sinh vật biến nạp di truyền v.v..
4- Tăng cường hợp tác trong nước, quốc tế với lực lượng công an và các cơ quan nghiên cứu khoa học về "An ninh môi trường và Tội phạm môi trường". 5- Tăng cường năng lực cho các phòng nghiên cứu, phân tích của Ngành để có thể tham gia vào việc phòng chống tội phạm môi trường cũng như tham gia đào tạo nâng cao trình độ cán bộ Công an về an ninh môi trường và tội phạm môi trường.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Nghĩa
Tổng cục KH-KT&CN-Bộ Công an
Nguồn: www.nea.gov.vn