Bàn về điều kiện hình thức của giao dịch theo quy định Bộ Luật Dân sự 2005
15:1' 21/8/2009
qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó”.

Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và nhu cầu quản lý của nhà nước mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao dịch. Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là giao dịch đó có hiệu lực. Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc.  Song có những loại giao dịch pháp luật bắt buộc hai bên phải thể hiện bằng văn bản và còn có trường hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ trong những trường hợp có quy định của pháp luật về loại giao dịch nào đó phải tuân theo những hình thức nhất định và hình thức đó là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì hình thức của giao dịch mới trở thành một điều kiện bắt buộc để giao dịch đó có hiệu lực.



Có hai cách hiểu khác nhau về quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự. Quan điểm thứ nhất nên cũng có ý kiến cho rằng khi pháp luật đã quy định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì khi các bên vi phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu. Trong trường hợp này nếu các bên không yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu về hình thức Toà án cũng có quyền tuyên bố giao dịch đó vô hiệu, có như vậy mới bảo đảm được yêu cầu quản lý của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật. Bởi chính khoản 2 Điều 124 đã quy định rõ là “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó”. Đây là một quy định mệnh lệnh dứt khoát, bắt buộc chứ không phải là một quy định tuỳ nghi. Hơn nữa Điều 127 Bộ luật Dân sự cũng quy định: “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”. Như vậy 3 điều kiện về nội dung là điều kiện cần và điều kiện về hình thức là điều kiện đủ để cho một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật. Do đó, không có lý do gì khi hợp đồng đã vi phạm điều kiện này mà Toà án phải chờ một bên hoặc các bên có yêu cầu mới tuyên bố hợp đồng vô hiêu, còn đương sự không có yêu cầu thì không xem xét là không hợp lý, không phù hợp với tinh thần, lời văn của điều luật.

Quan điểm thứ 2 cho rằng các quy định tại Điều 122, khoản 2 Điều 124, Điều 127 Bộ luật Dân sự là những quy định chung, mang tính nguyên tắc, không nhất thiết hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức là vô hiệu. Theo định nghĩa về giao dịch dân sự được quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, hợp đồng cũng là một loại giao dịch mà theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự thì khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định thì hai bên có thể thoả thuận chọn hình thức thể hiện của hợp đồng. Hợp đồng có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, hoặc hình thức bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể.

Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó. Nhưng cũng chính tại đoạn hai khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự cũng đã quy định: “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Vậy hiểu quy định này như thế nào? nếu theo quan điểm một thì khi pháp luật đã quy định một loại giao dịch nào đó phải tuân theo một hình thức nhất định mà vi phạm điều kiện về hình thức đều vô hiệu thì quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự sẽ trở thành vô nghĩa.

Quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự là sự cụ thể những quy định chung về điều kiện hình thức của hợp đồng. Các tranh chấp về một hợp đồng cụ thể có liên quan đến hình thức của hợp đồng là phải áp dụng Điều 401 mà đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự đã ghi rõ là “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, khi một hợp đồng có vi phạm về hình thức thì Toà án tuyên bố tranh chấp hợp đồng có vi phạm về hình thức là vô hiệu và việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu không bị hạn chế về thời gian.

Chúng tôi không tán thành hai quan điểm trên, mặc dù cũng cảm thấy quy định tại đoạn hai khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự dễ gây cảm giác như có mâu thuẫn với các quy định tại khoản 2 Điều 122, Điều 127, Điều 134 và Điều 136 Bộ luật Dân sự dẫn đến có cách hiểu khác nhau. Có nhiều ý kiến cho rằng các tranh chấp hợp đồng mà vi phạm điều kiện về hình thức là không bị vô hiệu. Nhiều ý kiến khác lại tỏ ra phân vân không hiểu phải xử lý như thế nào cho đúng khi hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức vì các quy định ở phần giao dịch và phần hợp đồng mâu thuẫn nhau.

Theo suy nghĩ của chúng tôi, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định điều kiện về hình thức của giao dịch nói chung và hợp đồng nói riêng đã khác trước rất nhiều. Ngoài việc sửa đổi có tính chất kỹ thuật như bỏ bớt các chữ, câu, ý thừa thì về nội dung thì đã có những tư tưởng mới được thể hiện trong các điều quy định chung về giao dịch và quy định ở phần hợp đồng. Để hiểu đúng quy định của pháp luật không được xem xét tách rời giữa các điều luật với nhau, giữa các quy định chung với các quy định trong từng chế định cụ thể. Nếu như Bộ luật Dân sự năm 1995 coi vi phạm điều kiện về hình thức là rất nghiêm trọng giống như với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, như khoản 2 Điều 145 Bộ luật Dân sự năm 1995 đã quy định: “2- Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 137, Điều 138 và Điều 139 của Bộ luật này, thì thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế”. Như vậy, bất cứ lúc nào các bên đương sự cũng có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức; còn theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì các giao dịch dân sự vi phạm điều kiện về hình thức không phải đương nhiên vô hiệu. Dù giao dịch dân sự có vi phạm điều kiện về hình thức mà các bên không khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì Toà án không xem xét; nếu trường hợp đương sự yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm về hình thức thì theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự, thời gian tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về hình thức chỉ có hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, quá thời hạn này đương sự mới yêu cầu thì Toà án không chấp nhận yêu cầu đó. Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng dân sự, nên các vụ án về hợp đồng dân sự đương nhiên áp dụng Điều 136 Bộ luật Dân sự.

Ví dụ, ngày 01/01/2005, Hai bên ký kết hợp đồng mua bán nhà đất. Hợp đồng này chỉ vi phạm điều kiện về hình thức nhưng đến ngày 20/01/2007 (quá hai năm) một bên khởi kiện ra Toà án yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu thì Toà án bác yêu cầu của họ, công nhận hợp đồng mua bán. Tuy nhiên nếu ngày 01/10/2006 (trong thời hạn 2 năm) mà họ có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì Toà án căn cứ Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong thời hạn 1 tháng. Quá thời hạn đó mà không thực hiện thì Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp này bên nào có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Như vậy, Toà án chỉ áp dụng Điều 134 Bộ luật Dân sự buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch khi đương sự khởi kiện còn trong thời hiệu theo quy định của Điều 136 Bộ luật Dân sự.

Hợp đồng dân sự là một hình thức của giao dịch dân sự và đoạn hai khoản 2 Điều 401 có quy định: “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Vấn đề mấu chốt là hiểu “trừ…quy định khác” là những quy định nào? có phải như cách giải thích, bình luận của quan điểm hai nói trên. Theo chúng tôi phải hiểu quy định trên là nếu không có quy định nào của pháp luật đề cập đến việc vô hiệu về hình thức của hợp đồng thì dù một hợp đồng nào đó có vi phạm điều kiện về hình thức cũng không bị vô hiệu. Ngược lại, nếu trong bộ luật dân sự hoặc một văn bản pháp luật nào đó có quy định nếu giao dịch hay hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức là vô hiệu thì khi hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức phải tuyên bố hợp đồng đó bị vô hiệu. Qua các phân tích ở trên buộc chúng ta phải có nhận thức theo hướng khi áp dụng Điều 401 Bộ luật Dân sự không được tách rời với các Điều 134, 136 Bộ luật Dân sự. Chính Điều 134, Điều 136 là các quy định khác của pháp luật so với đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự. Việc giải thích bình luận câu: “Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” như quan điểm 2 nói trên chúng tôi cho là không chính xác, đã hoàn toàn tách rời các quy định ở phần giao dịch của các quy định ở phần hợp đồng.

Tuy nhiên, để tránh các hiểu lầm không đáng có, đề nghị khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005 cần bỏ đoạn hai khoản 2 Điều 401. Mặc dù chúng tôi cũng cho rằng có lẽ dụng ý khi bổ sung thêm đoạn hai khoản 2 Điều 401 nhà làm luật muốn lưu ý khi áp dụng Điều 401 phải gắn với quy định ở phần giao dịch trong Bộ luật Dân sự và các quy định khác có liên quan đến hình thức của giao dịch hoặc hợp đồng. Nhưng vì các quy định về hình thức, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu ở phần giao dịch là đã khái quát và đầy đủ. Hơn nữa, Điều 121 Bộ luật Dân sự đã định nghĩa rất rõ: Giao dịch dân sự là một hợp đồng… thì đương nhiên các quy định ở phần giao dịch phải áp dụng ở phần hợp đồng, trừ trường hợp các quy định ở phần hợp đồng là cụ thể và có tính đặc thù khác với quy định ở phần giao dịch thì mới áp dụng quy định ở phần hợp đồng mà không áp dụng quy định chung ở phần giao dịch. Do đó, việc thêm đoạn hai khoản 2 Điều 401 dẫn đến phản tác dụng gây lúng túng, hiểu lầm đây là một quy định mới riêng biệt đặc thù chỉ áp dụng cho phần hợp đồng, từ đó cho rằng “… quy định khác” là các quy định của pháp luật về hợp đồng mới có giá trị áp dụng cho các tranh chấp riêng về hợp đồng như quan điểm hai nói trên. Nếu muốn giữ tinh thần đoạn hai khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự thì phải viết rõ hơn nữa. Trên đây là ý kiến cá nhân và tác giả cũng nhận thấy việc bình luận, giải thích các quy định của pháp luật là vấn đề không hề đơn giản, nên rất mong bạn đọc cùng trao đổi, nhằm hiểu chính xác các quy định nói trên.

Tác giả: Thẩm phán Tưởng Duy Lượng - Chánh tòa Dân sự, Tòa án Nhân dân Tối cao. 
Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 5/2007

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất