I. Một Nhà nước pháp quyền nói chung đặt dưới pháp luật. Nhà nước pháp quyền Việt Nam, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, càng phải là một Nhà nước đặt dưới pháp luật. Vấn đề là ở bản chất pháp luật, cùng là bản chất của Nhà nước và ý chí của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân đề lên thành luật, thành quyền lực đặc biệt. Để bảo đảm cho tính pháp quyền và bản chất ấy của pháp luật, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, một vấn đề cực kỳ trọng yếu là kiểm tra tính hợp hiến và tính hợp pháp của mọi văn bản, mọi quyết định, mọi hành vi của Nhà nước nói chung và của các cơ quan nhà nước, các nhà cầm quyền, các nhà chức trách, các công chức trong bộ máy nhà nước nói riêng.
Nhà nước ta, ngay từ những năm đầu thành lập đã xem trọng cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản nhà nước. Tầm quan trọng và tính hữu hiệu của cơ chế kiểm tra cũng hình thành và phát triển dần theo đà phát triển của tư tưởng Nhà nước pháp quyền; tất nhiên là không phải theo quan điểm “pháp trị” hơn “nhân trị”, theo quan niệm hành chính học chỉ là khoa học pháp lý.
Bất cứ một sự quản lý nào, công hay tư, thuộc lĩnh vực nào cũng phải có kiểm tra, là một khâu không thể thiếu được trong công nghệ quản lý. Quản lý nhà nước, hơn đâu hết lại càng cần có kiểm tra. Cơ chế kiểm tra của Nhà nước, đặc biệt là kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản nhà nước. Chỉ nói riêng sự kiểm tra đối với các quyết định và hành vi của bản thân Nhà nước (tức là Nhà nước tự kiểm tra Nhà nước, không kể sự kiểm tra của Nhà nước đối với các tổ chức không phải Nhà nước, đối với công dân) cũng bao gồm một phạm vi rất rộng:
- Kiểm tra tính hợp hiến, kiểm tra tính hợp pháp, kiểm tra tính hợp lý, kiểm tra tính hiệu quả;
- Kiểm tra văn bản, kiểm tra hành vi…,
- Kiểm tra chính trị, kiểm tra hành chính, kiểm tra tư pháp, kiểm tra chuyên môn, kỹ thuật;
- Kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong hệ thống thứ bậc; kiểm tra của các tổ chức tài phán không thuộc hệ thống; kiểm tra của các cơ quan xét xử…
Tuỳ theo bản chất, đối tượng, chủ thể kiểm tra và tổ chức kiểm tra, chúng ta đã dùng những thuật ngữ khác nhau để chỉ sự kiểm tra: kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát. Cơ cấu tổ chức và cơ chế kiểm tra của Nhà nước ta gồm đủ các loại hình kiểm tra nói trên. Ngày nay, chúng ta sắp tổ chức hệ thống tài phán hành chính, tức là thêm một loại hình kiểm tra nữa. Hãy xem xét loại hình kiểm tra này có vị trí, đặc điểm như thế nào trong hệ thống kiểm tra hiện hành của Nhà nước ta:
- Nó là loại hình kiểm tra hành chính như các loại hình kiểm tra hành chính đang tồn tại, nhưng cái khác và mới là ở chỗ không phải cơ quan hành chính nhà nước cấp trên kiểm tra cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, mà một cơ quan tài phán hành chính không nằm trong hệ thống hành chính điều hành (hay gọi là hành chính quản lý) kiểm tra cơ quan hành chính điều hành của Nhà nước.
- Nếu cơ quan hành chính nhà nước cấp trên kiểm tra cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới thì kiểm tra cả tínhhợp pháp, hợp lý, tính hiệu quả… Cơ quan tài phán hành chính chỉ kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản (và tất nhiên đi theo đó là hành vi, hành động) của cơ quan hành chính.
- Nếu kiểm tra hành chính là kiểm tra nội bộ các cơ quan hành chính, cơ quan cấp trên kiểm tra cơ quan hành chính và nhân viên dưới quyền và xử lý theo thứ tự hành chính và mang tính chất hành chính với các hình thức kỷ luật hành chính, thì kiểm tra của các cơ quan tài phán hành chính là theo trình tự tố tụng và xét xử theo phán quyết của Toà án.
Kiểm tra của tài phán hành chính cũng khác với thanh tra cũng như khác với kiểm tra, vì thanh tra vừa có tính chất và đặc điểm của kiểm tra như nói trên, nhưng nó khác là thanh tra mang tính chất nhà nước, do một tổ chức thường xuyên hay lâm thời mang tính quyền lực nhà nước, do một cơ quan có thẩm quyền đặt ra và giao cho quyền hạn thanh tra.
- Nếu các loại kiểm tra, thanh tra hiện có đều mang tính chất xử lý nội bộ (hành chính xử hành chính, hay các nước còn gọi là chế độ “Bộ trưởng – Quan toà”), thì tài phán hành chính là tách biệt cơ quan, nhà chức trách hay công chức hành chính với cơ quan và Thẩm phán hành chính.
- Tài phán hành chính lại khác với tài phán tư pháp ở chỗ cơ quan Kiểm sát thực hiện chức năng công tố và đưa ra truy tố trước Toà án để xét xử hoặc những vụ kiệm dân sự về mối quan hệ tư nhân với tư nhân, tức là quan hệ dân sự giữa công dân với nhau (thường gọi là theo luật tư), hoặc là về những vụ án hình sự của người công dân có những tội liên quan đến nền an ninh quốc gia… Còn tài phán hành chính là xét xử những hành vi của cơ quan (hay nhà chức trách) hành chính về những vi p hạm quyền lợi của công dân đã được luật pháp, đặc biệt là luật pháp hành chính quy định. Nói một cách khác, như quan niệm ở một vài nước, Toà án tư pháp là quan xử dân, Toà án hành chính là dân kiện và xử quan.
- Cuộc sống của người dân có muôn vàn mối quan hệ với nhau, với Nhà nước, với các tổ chức chính trị, văn hoá, xã hội công và tư. Các mối quan hệ đó được quy định bằng pháp luật, cái mà người dân lo ngại là mối quan hệ đó mang tính đơn phương của pháp luật hành chính, là quan hệ giữa một bên là Nhà nước, tức là cơ quan nắm quyền lực (tuy là đầy tớ phục vụ dân) và một bên là người công dân (tuy là chủ nhưng là một cá thể công dân đứng trước công quyền). Nỗi bất công giữa công dân (tư nhân) với nhau có Nhà nước làm trọng tài xử lý; nhưng mối quan hệ bất bình đẳng giữa công quyền và tư nhân thì ai làm trọng tài và xử lý nếu cơ quan và nhà chức trách hành chính vừa “đá bóng” vừa “thổi còi”?
2- Những điểm trên khẳng định rõ ràng thêm tính chất và đặc điểm của tài phán hành chính. Để góp phần tổ chức tài phán hành chính có hiệu lực và có hiệu quả, từ những đặc điểm trên, thử tìm ra một vài vấn đề tính chất nguyên tắc. Tính chất của nền dân chủ của người dân, chủ thể của quyền lực nhà nước phải có một thiết chế, một cơ chế bảo đảm kiểm tra và đòi hỏi xử lý những hành vi vi phạm quyền làm chủ, quyền con người và quyền công dân của người dân. Nhà nước nào cũng có pháp quyền, Nhà nước không mang tính pháp quyền là vô nghĩa, là không còn Nhà nước, nhưng Nhà nước chỉ trở thành Nhà nước pháp quyền khi Nhà nước đó tự đặt hay bị đặt dưới pháp quyền, dưới pháp luật, vì lẽ pháp quyền đó là ý chí của dân, không là tư tưởng, nguyện vọng, yêu cầu của dân, mà là đã được cốt hoá, được luật pháp hoá, được mang tính đặc trưng riêng, đó là cưỡng bức mọi người dân phải tuân theo.
Nhưng Nhà nước pháp quyền dân chủ là Nhà nước không chỉ quản lý bằng pháp luật, tức là đặt ra pháp luật và dùng pháp luật để cai trị, để quản lý dân, mà chính bản thân Nhà nước phải tuân thủ pháp luật, phải tự đặt mình dưới luật, phải tự quản lý và tổ chức theo luật. Một Nhà nước không có thiết chế và cơ chế để dân kiểm tra, khiếu kiện và đòi hỏi xử lý những cơ quan nhà nướca và nhà chức trách theo đúng pháp luật khi họ vi phạm pháp luật trong quan hệ với dân, một Nhà nước như vậy không còn là một Nhà nước dân chủ. Thiết chế và cơ chế thanh tra nhà nước giải quyết khiếu nại… có vai trò của nó, nhưng rõ ràng rằng nó không mang đủ tính chất của tài phán hành chính để bảo đảm quyền dân chủ của công dân. Hơn nữa, tổ chức tài phán hành chính mà không nhận rõ vai trò, tính chất, đặc điểm của nó như nói trên thì cũng chưa phải đã bảo đảm đầy đủ nền dân chủ và quyền công dân, đặc biệt là trong quan hệ với Nhà nước.
Quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia, nhưng có phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa ba quyền (hay còn gọi là giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền). Phân công và phối hợp không có nghĩa là “phân lập các quyền” (theo thuyết phổ biến ở các Nhà nước tư sản, dưới những dạng và mức độ khác nhau), nhưng cũng không phải là “hỗn hợp” các quyền, lẫn lộn, chồng chéo, trộn lẫn vào nhau, cơ quan lập pháp cũng làm một phần công việc thuộc quyền hành pháp hay tư pháp… Ở đây không phải là nơi và là thời điểm trình bày sâu về quyền hành pháp với nội dung, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của nó đã được Hiến pháp quy định, mà chỉ nhấn mạnh đến nguyên tắc hiến định và từ quyền hành để nhận rõ vai trò, nội dung nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của nền hành chính nhà nước (hay còn gọi là nền hành chính công, hay nền hành chính quốc gia), tức là hệ thống thiết chế, tổ chức và chế định thực thi quyền hành pháp; nói một cách ngắn gọn đó là quyền hành pháp hành động. Quyền hành pháp với nền hành chính hành động trong tay nó, bao gồm quyền hạn và nghĩa vụ: quyền quản lý công việc hàng ngày của Nhà nuớc; quyền lập quy; quyền tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước từ Trung ương (Chính phủ, bộ…) đến cơ sở (xã, phường), từ các cơ quan hành chính đến các cơ quan sự nghiệp, các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội của Nhà nước, quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý mọi quyết định, văn bản hay hành động thực tế vi phạm trật tự nhà nước và xã hội xét về tính hợp pháp, tính hợp lý, tính hiệu quả trong hệ thống quản lý của nền hành chính công.
Quyền hành pháp bảo đảm thực hiện quyền quản lý và kiểm tra đối với mọi tổ chức hành chính nhà nước cũng như đối với mọi tổ chức Chính phủ hay phi Chính phủ và đối với mọi công dân khi vi phạm pháp luật nhà nước, dù đó là luật công hay luật tư và xử lý những hành vi vi phạm đó bằng hệ thống hành chính điều hành và hệ thống hành chính tài phán nếu thuộc phạm vi luật hành chính, ngoại trừ những vấn đề thuộc luật dân sự, thương mại, hình sự…
- Sự phân biệt và phân công tài phán tư p háp và tài phán hành chính xuất phát sâu xa từ sự phân biệt và phân công (nếu không nói là phân lập) giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Cơ quan lập pháp – tôi không nói cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan hành pháp không có chức năng thực hiện quyền tư pháp thì cơ quan tư pháp (hiểu đúng nghĩa chính xác của nó là quyền xét xử) không bao gồm chức năng công tố, các chức năng hành chính tư pháp…Nói cách khác, Toà án tư pháp không kiểm tra, kiểm sát và xét xử cơ quan nắm quyền lập pháp và cơ quan nắm quyền hành pháp. Một thiết chế dân chủ hoàn chỉnh phải có cơ quan kiểm tra (thường xuyên hay lâm thời) để kiểm tra, xét xử những vị có nhiệm vụ, chức quyền cao trong bộ máy lập pháp và hành pháp; ví dụ Hội đồng Hiến pháp hay Toà án Hiến pháp, Toà án đặc biệt xét xử những vị Tổng thống, Chủ tịch Quốc hội, nghĩ sỹ, Thủ tướng, Bộ trưởng khi vi phạm nghiêm trọng luật pháp và quyền lợi quốc gia trong khi thi hành chức trách (cũng nên nhắc lại đây, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà: Chủ tịch nước không chịu trách nhiệm trước Nghị viện, trừ khi phạm tội phản quốc).
- Nhưng quyền hành pháp nắm quyền tài phán hành chính xét xử những sự vi phạm hành chính không có nghĩa là cơ quan hành chính nhà nước, kể từ Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất cho đến cấp cơ sở, vừa thực hiện chức năng hành chính điều hành (hay còn gọi hành chính quản lý) lại vừa thực hiện chức năng hành chính tài phán. Vấn đề này có những quan điểm và phương thức tổ chức khác nhau, phần nhiều do hoàn cảnh lịch sử ra đời của mỗi nước và đặc biệt là do quan niệm về sự phân lập, hay phân công giữa 3 quyền và một phần không kém quan trọng là xuất phát từ thực tế tổ chức bộ máy nhà nước hiện hành hay đang trong quá trình cải cách. Trong hoàn cảnh Việt Nam, xét về nhiều mặt, nên theo quan niệm trên là hợp lý; tôi xin không đi sâu vào vấn đề tổ chức bộ máy, đội ngũ Thẩm phán, hiệu lực và hiệu quả của tổ chức hành chính và tổ chức tư pháp hiện hành đang phải cải cách; những thuận lợi và khó khăn của các phương án tổ chức cơ quan tài phán hành chính cũng như nhiều cuộc hội thảo trước đây đã đề cập. Tất cả vấn đề là hiệu lực và hiệu quả của hệ thống tài phán hành chín sắp ra đời.
3- Một khi hệ thống hành chính tài phán ra đời, cần xem xét, điều chỉnh, sắp xếp lại hệ thống kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát hiện nay theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật. Trước hết phải định nghĩa, không phải kiểu hàn lâm mà là một cách thực tiễn, các quyền kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát, chức năng, quyền hạn, thẩm quyền của các tổ chức khác nhau, nhất là khi hệ thống hành chính tài phán ra đời.
- “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 38); “… Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội” (Điều 84 điểm 9).
- “Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát hoạt động của của Hội đồng nhân dân; đình chỉ, huỷ bỏ các văn bản…” (Điều 91, điểm 5,6 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992).
- Như vậy, quyền kiểm tra tính hợp pháp (chỉ tính hợp pháp mà thôi) của các cơ quan nhà nước thuộc quyền hành pháp, tư pháp tối cao là thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tức là không thuộc quyền tài phán hành chính. Nói cách khác, chỉ có Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (không phải với tư cách là cơ quan lập pháp) và Uỷ ban thường vụ Quốc hội được giao thực hiện chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mới có quyền xem xét và bãi bỏ hoặc huỷ bỏ những văn bản trái Hiến pháp và pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tức là của cơ quan nắm quyền hành pháp cao nhất.
Ở đây cũng mới chỉ dừng lại ở mức giải quyết vấn đề kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản thuộc quyền lập quy của cơ quan hành pháp. Còn phải tiếp tục đề cập đến vấn đề kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội thông qua trong các pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (trong điều kiện Uỷ ban thường vụ Quốc hội còn ra nhiều pháp lệnh như hiện nay, vấn đề không hoàn toàn hợp lý cần nghiên cứu cải cách sau này). Cũng cần suy nghĩ, nếu công dân khiếu kiện một văn bản hành chính (lập quy) của bản thân Chính phủ, hay của Thủ tướng Chính phủ, hay của một Bộ trưởng là thành viên Chính phủ thì chỉ có khiếu kiện với Quốc hội hay Uỷ ban thường vụ Quốc hội, hay có thể khiếu kiện đến cơ quan tài phán hành chính (loại trừ những vấn đề mang tính chất bí mật quốc gia, an ninh quốc gia, quốc phòng, ngoại giao…). Nảy sinh vấn đề là đến mức nào thì đụng đén nguyên tắc quyền tư pháp không kiểm tra và xét xử quyền hành pháp và thẩm quyền của Toà án hành chính đối với thành viên Chính phủ.
+ “Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp…”.
+ “Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo phápluật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương” (Điều 18 điểm 2).
(Chú ý: Thế nào là “sai trái”, xét cả tính hợp pháp, hợp lý, hiệu quả…?; Thế nào là “bãi bỏ”, là “huỷ bỏ”?).
Như vậy, Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân giám sát và có quyền bải bỏ (hay huỷ bỏ) những nghị quyết sai trái, tức là những văn bản hành chính và những hành vi hành vi quản lý của cơ quan hành chính nhà nước trong nền hành chính nhà nước, với tư cách là “cơ quan quyền lực” nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra, dù là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao hay cơ quan quyền lực nhà nước quyền lực nhà nước tối cao hay cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (chú ý: không chỉ Quốc hội, Hội đồng nhân dân do nhân dân trực tiếp bầu mới là cơ quan quyền lực nhà nước về tư pháp, xét xử). Vậy khi cơ quan tài phán hành chính ra đời, quyền xét xử những văn bản vi phạm pháp luật hành chính, tức là vi phạm quyền công dân và huỷ bỏ toàn bộ hay một phần những văn bản đó (kể cả phải bồi thường vật chất và tinh thần cho người bị hại) sẽ có sự trùng lặp với quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nhất là của Hội đồng nhân dân.
- Về quyền kiểm tra của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:
+ “Chính phủ có quyền hướng dẫn và kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, kiểm tra tính hợp pháp của các nghị quyết của Hội đồng nhân dân” (Điều 17 điểm 1).
+ “Thủ tướng Chính phủ có quyền: Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên”.
Ở đây, có sự trùng rõ ràng giữa quyền kiểm tra tính hợp của các văn bản của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước (kể cả của Hội đồng nhân dân) vì nó chỉ có quyền ra những nghị quyết thi hành mà không được trái với luật, pháp lệnh và các quyết định của cơ quan nhà nước trung ương ( Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng…)
- Cần phân biệt rõ thẩm quyền của các cơ quan hành chính điều hành cấp dưới và thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính (Toà án hành chính) đối với các cơ quan hành chính điều hành, không kể là cơ quan hành chính trung ương hay địa phương. Nhất là trong trường hợp không phải do cơ quan hành chính cấp trên phát hiện tính bất hợp pháp của văn bản của cấp dưới, mà là do công dân, kể cả công chức khiếu kiện đến Toà án hành chính.
Do đặc điểm này cho nên tố tụng hành chính có khác với tố tụng dân sự hay hình sự là người công dân yêu cầu cơ quan nhà nước xét lại và sửa đổi hay huỷ bỏ một quyết định mà anh ta cho là bất hợp pháp và làm thiệthại đến quyền lợi chính đáng của mình. Nếu cơ quan nhận được đơn khiếu kiện mà xử thoả đáng cho người khiếu kiện thì được coi là xong. Nếu không thì người công dân có quyền khiếu kiện đến cơ quan tài phán hành chính.
Mặt khác, cần phân định rõ quyền công dân khiếu kiện và thẩm quyền xét xử của cơ quan tài phán hành chính đối với các loại văn bản hành chính nào. Thông thường, đó là những văn bản hành chính gọi là “cá biệt” liên quan trực tiếp đến một người hay một nhóm công dân, hay một tổ chức, một cơ quan hoặc văn bản tuy là mang tính quy phạm nhưng liên quan trực tiếp đến một cộng đồng dân cư về một loại việc nhất định, ở một địa bàn hay lãnh thổ địa phương nhất định, hay đến một bộ phận công dân hay công chức nhất định. Cho nên, phạm vi kiểm tra và xử lý của cơ quan hành chính cấp trên đối với cấp dưới rộng hơn nhiều so với phạm vi kiểm tra và xử lý của cơ quan tài phán hành chính.
- Về quyền kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân:
“Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tỏ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Hiến pháp năm 1992, Điều 137).
Đến đây lại có sự trùng lắp không chỉ riêng gì với chức năng kiểm tra xét xử của tài phán hành chính mà còn trùng lắp với chức năng kiểm tra của bản thân cơ quan hành chính điều hành, quản lý công việc thường xuyên của Nhà nước. Giải quyết vấn đề này vượt ra ngoài phạm vi luật tổ chức và hoạt đông của Toà án hành chính, mà đụng đến vấn đề phức tạp hơn, tức là vấn đề quyền công tố là thuộc lĩnh vực quyền hành pháp hay tư pháp. Nếu xem công tố là một mặc của chức năng hành pháp, tức là bảo đảm việc chấp hành luật nói chung, không riêng luật hành chính và kiểm tra, thanh tra phát hiện hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật và quyền lợi chung và quyền lợi công dân, thì cơ quan hành chính nhà nước thuộc quyền hành pháp thực hiện quyền công tố, đưa ra Toà án xét xử về dân sự, hình sự và Toà án khi xét xử được “độc lập, chỉ tuân theo pháp luật”.
Trong khi vấn đề chưa được nghiên cứu và theo thiết chế diện hẹp, có lẽ cần phân định thẩm quyền giữa hai cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và Toà án hành chính bằng cách quy định những vụ khiếu kiện và xét xử thuộc tài phán hành chính không phải thông qua Viện kiểm sát nhân dân làm công tố, mà chỉ trực tiếp giữa cơ quan hành chính hữu quan với Toà án hành chính.
4- Cuối cùng, một vấn đề liên quan đến chủ đề này là hệ thống tổ chức Toà án hành chính. Từ những điểm trên, vấn đề nổi lên là: hoạt động của tài phán hành chính (dù hệ thống Toà án hành chính riêng biệt hay hệ thống dưới riêng trên chung; dù thuộc Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hay Thủ tướng Chính phủ…) có một đặc điểm là gắn bó mật thiết với hệ thống tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhà nước nằm dưới quyền hành pháp tối cao. Thiết chế, cơ cấu tổ chức và cơ chế hiện nay của ta đã mang tính trùng lắp khá nhiều trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm sát chung, giám sát. Nay thêm một thiết chế và cơ chế kiểm tra mang tính tài phán nữa mà đặt nó trong hệ thống Toà án nhân dân và tách ra ngoài quyền hành pháp tối cao là một sự rắc rối thêm cho hành pháp (không phải hành chính tự xử hành chính, không phải chế độ “Bộ trưởng - Quan toà”) và một gánh nặng thâm cho các Toà án nhân dân trong khi nó chưa đảm đương nổi tài phán tư pháp (dân sự, hình sự… và nhiều lĩnh vực chuyên ngành khi chưa hành thành Toà án chuyên trách khác như trẻ em, lao động…), và đội ngũ Thẩm phán tư pháp của ta hiện nay chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm về luật hành chính và về thực tiễn quản lý hành chính, một lĩnh vực hoạt động quản lý đặc thù không đơn thuần là pháp lý./.
GS. Đoàn Trọng Truyến - Giám đốc điều hành Dự án cải cách hành chính VIE/92/002
Nguồn: www.giri.ac.vn