Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thành lập toà án hành chính ở nước ta
20:27' 8/7/2009


I. Quan niệm quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và vấn đề tài phán hành chính ở nước ta

 

Phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta xác định cần phải xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Với bản chất đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan niệm quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Chính vì vậy không có sự phân lập tuyệt đối giữa các quyền năng lập pháp, hành pháp và tư pháp mà trong bộ máy nhà nước quyền lực tập trung vào cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân là Quốc hội. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Quyền lập pháp được tập trung vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nội dung của hoạt động lập pháp là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất đó là Hiến pháp, các bộ luật, đạo luật.

Thực hiện quyền hành pháp thực chất là việc quản lý và điều hành xã hội theo pháp luật nhằm tổ chức đời sống xã hội và Nhà nước phù hợp với đường lối của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Hệ thống cơ quan hành chính do cơ quan quyền lực nhà nước - Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên thành lập. Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp quy và các văn bản áp dụng pháp luật (điều hành trực tiếp), có quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện các quy định của mình.

Như vậy, hệ thống hành chính nhà nước, khi thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành, có quyền xử lý vi phạm pháp luật, xem xét và giải quyết các kiện của công dân đối với các quyết định và hành vi hành chính xâm hại đến quyền và lợi ích của họ. Chức năng này có tính chất của hoạt động tài phán nhưng được thực hiện bởi chính các cơ quan hành chính và theo thủ tục hành chính.

Quyền tư pháp chủ yếu được thực hiện bằng hoạt động xét xử, công tố và các hoạt động hỗ trợ tư pháp khác như điều tra, công chứng, luật sư…, các chức năng trên được thực hiện bởi Toà án, Viện kiểm sát và một số cơ quan nhà nước khác theo trình tự tố tụng tư pháp (hình sự, dân sự…). Như vậy, khâu trọng tâm của quyền tư pháp là xét xử của Toà án, đúng pháp luật để bảo vệ quyền chủ thể, lợi ích hợp pháp của họ, bảo vệ trật tự luật pháp của xã hội.

Nguyên tắc phân công, phân cấp thẩm quyền bảo đảm mỗi cơ quan nhà nước có một địa vị pháp lý nhất định trong việc thực hiện các quyền của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí và phục vụ lợi ích của nhân dân.

Như trên đã trình bầy, hoạt động xét xử hiện nay được thực hiện bởi các Toà án nhân dân, nhân danh Nhà nước ra các bản án về hình sự, dân sự, kinh tế… Những tranh chấp trong lĩnh vực hành chính nhà nước giải quyết theo thủ tục hành chính. Giải pháp này dựa trên quan niệm chung là Nhà nước hiện hữu để phục vụ cho lợi ích chung, hoạt động của các cơ quan hành chính cũng nhằm mục tiêu đó. Vì vậy, các khiếu kiện của công dân về “sai sót” trong hoạt động quản lý có thể được giải quyết bằng bản thân các cơ quan hành chính nhà nước với các hành vi tự sửa chữa. Rõ ràng là, quan niệm trên đây không còn thích hợp với xu hướng xây dựng một Nhà nước pháp quyền và dân chủ, trong đó mọi quyền lợi của công dân phải được đảm bảo thực hiện và trên nguyên tắc mọi hoạt động đều cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát nhân danh quyền lực nhà nước, quyền lực của nhân dân. Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước hàng ngày, hàng giờ đụng chạm đến đời sống nhân dân càng phải cần có cơ chế kiểm tra hữu hiệu.

Quá trình nghiên cứu cho thấy: xuất phát từ bản chất của hoạt động tài phán hành chính như đã nêu trên nên dù được tổ chức như thế nào (Toà án hành chính thành hệ thống độc lập hay trực thuộc Toà án nhân dân) thì nó cũng phải có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với hoạt động hành chính điều hành. Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho nó hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cũng như góp phần tăng cường tính pháp chế trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình đổi mới, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.

 

II. Các cơ chế kiểm tra hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước hiện nay

Theo pháp luật hiện hành thì việc kiểm tra hoạt động hành chính được tổ chức dưới nhiều hình thức với tên gọi khác nhau: Kiểm tra, kiểm sát, giám sát, thanh tra… được thực hiện bới ba hệ thống cơ quan: các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp); Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện việc kiểm tra, giám sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và mọi công dân; các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên kiểm tra và sửa đổi các văn bản của cấp dưới, chủ yếu thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra do các tổ chức Thanh tra nhà nước và các cơ quan chức năng tiến hành.

Hoạt động giải quyết khiếu nại hiện nay gắn với việc xét xử hành chính nhưng với một trình tự hành chính và không có một cơ quan độc lập đảm nhiệm. Qua nhiều năm thực hiện cơ chế này cho thấy việc giải quyết các khiếu kiện hành chính còn kém hiệu quả, hiệu lực thấp và chưa thực sự dân chủ. Thực chất giải quyết khiếu nại hành chính là giải quyết tranh chấp, trong đó đối tượng bị kiện luôn là cơ quan nhà nước hoặc nhân viên cơ quan nhà nước trong quá trình thực thi công vụ. Việc giao thẩm quyền giải quyết (quyền tài phán) cho cơ quan hành chính (trong đó có các tổ chức Thanh tra nhà nước) đã biến cơ quan hành chính vừa là người bị kiện lại vừa là người xử kiện. Người dân vốn đã là một bên trong quan hệ có tính bất bình đẳng với cơ quan hành chính, khi xẩy ra tranh chấp lại càng trở nên yếu thế và chỉ có thể trông chờ vào thiện ý của cơ quan hành chính, khiếu nại của họ chỉ có tính chất “kêu nài” (recours grâcieux), thiếu một cơ quan trọng tài đứng ra xem xét một cách công minh và vô tư thông qua một trình tự có tính chất tố tụng chặt chẽ và bình đẳng. Chính vì vậy mà việc thiết lập cơ chế tài phán hành chính đảm nhiệm đã trở thành một yêu cầu bức bách, phù hợp với xu hướng cải cách một bước nền hành chính nhà nước, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, một Nhà nước pháp quyền và dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân.

Là một bước phát triển về chất của công tác giải quyết khiếu nại hành chính, vấn đề tài phán hành chính còn là điều khá mới mẻ đối với chúng ta. Vì vậy, để cho thiết chế này có hiệu lực, hiệu quả thực sự, trước khi đi vào xử lý các vấn đề cụ thể, nhóm nghiên cứu đã xác định những nét đặc trưng và tính đặc thù của hoạt động xét xử hành chính.

 

III. Tính đặc thù của xét xử hành chính

Xét xử hành chính là xét xử các tranh chấp nẩy sinh trong quá trình thực hiện quyền lực hành chính của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ giữa cơ quan quản lý và đối tượng quản lý. Nét đặc trưng của quan hệ hành chính là quan hệ mệnh lệnh, phục tùng: cơ quan nhà nước, theo quy định của pháp luật, có quyền ra quyết định đơn phương hoặc thực hiện những hành vi bắt buộc đối với đối tượng bị quản lý. Các quyết định hoặc hành vi đó mà công dân cho là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra tranh chấp hành chính. Toà án hành chính không xác định các quyền dân sự của công dân, không xác định tội danh và áp dụng hình phạt đối với người vi phạm mà chỉ phán quyết về tính hợp pháp đối với quyết định hành chính hoặc hành chính bị kiện, nếu sai thì phải chấm dứt, sửa đổi, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ; nếu đã gây thiệt hại thì phải bổi thường. Cũng chính vì đối tượng xem xét của Toà án hành chính chủ yếu là các quyết định hành chính thường thể hiện bằng văn bản nên tố tụng hành chính sẽ chủ yếu là tố tụng viết, các bên tranh luận và cung cấp các hồ sơ, tài liệu của mình đều thông qua hình thức văn bản. Đối tượng chấp hành các phán quyết của Toà án hành chính chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước và nhân vien nhà nước. Do đó, các phương sách bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Toà án hành chính cũng không giống như đối với việc thi hành bản án về hình sự, dân sự, kinh tế…

Thẩm phán hành chính cũng khác với Thẩm phán tư pháp. Ngoài kiến thức pháp lý, Thẩm phán hành nhất thiết phải có kiến thức về quản lý nhà nước, am hiểu các lĩnh vực của hoạt động quản lý.

Những đặc điểm trên đây của xét xử hành chính là căn cứ hết sức quan trọng để xác định mô hình tổ chức, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, thẩm quyền, trình tự tố tụng của Toà án hành chính cho phù hợp, bảo đảm cho hoạt động tài phán hành chính có hiệu lực, hiệu quả.

 

IV. Các nguyên tắc và quan điểm cần quán triệt trong qúa trình thành lập toà án hành chính

Quá trình nghiên cứu thấy rằng để phù hợp với quá trình cải cách bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, quá trình thiết lập Toà án hành chính cần quán triệt những quan điểm và nguyên tắc sau đây:

Một là, xây dựng Toà án hành chính phải đặt trong tổng thể yêu cầu của việc cải cách hành chính nhà nước và cải cách tư pháp, theo tinh thần Nghị quyết 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hai là, xây dựng Toà án hành chính trên cơ sở tổng kết thực tiễn việc giải quyết các khiếu nại của công dân đối với quyết định hành chính, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, vận dụng thích hợp vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội, đặc điểm hệ thống chính trị, đặc điểm nền hành chính và truyền thống pháp lý của Nhà nước ta và cần có bước đi thích hợp.

Ba là, xây dựng Toà án hành chính trên cơ sở làm rõ vai trò hành chính quản lý và hành chính tài phán; quản lý hành chính nhà nước và quản lý sản xuất, kinh doanh; tài phán hành chính và tài phán tư pháp; các tranh chấp thuộc lĩnh vực hành chính và các tranh chấp khác.

Bốn là, Toà án hành chính được xây dựng theo nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật; công dân, cơ quan, tổ chức bình đẳng trong tố tụng hành chính.

Năm là, xây dựng Toà án hành chính phải đảm bảo hoạt động nhanh nhạy, các phán quyết thực sự có hiệu lực, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Nguồn: www.giri.ac.vn

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất