Quá trình nghiên cứu soạn thảo Dự án Luật tổ chức Toà án hành chính cho thấy: Xác định đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Luật tổ chức Toà án hành chính và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính phải xuất phát từ việc xác định tính đặc thù của tài phán hành chính về đối tượng xét xử, luật áp dụng, thẩm quyền, tố tụng, thi hành án, tuyển chọn và đào tạo Thẩm phán…, làm rõ tài phán hành chính và tài phán tư pháp.
Dù tổ chức Toà án hành chính theo mô hình hay phương án nào thì đây là điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng để làm rõ ranh giới mang tính bản chất của hai loại hình tài phán, hai loại hình xét xử: xét xử tư pháp và xét xử hành chính. Tài phán hành chính làm nhiệm vụ xét xử các vụ kiện hành chính. Trong đó, một bên của vụ kiện là công dân hoặc một nhóm công dân, còn bên kia luôn luôn là cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước. Những khiếu kiện này chỉ phát sinh trong quá trình thực thi quyền lực hành chính (quyền lực công) của cơ quan nhà nước, nghĩa là trong mối quan hệ giữa cơ quan quản lý với đối tượng bị quản lý.
Từ tính chất của pháp luật nói chung và tính chất của luật hành chính nói riêng ta thấy, nét đặc trưng của quan hệ quản lý vốn là quan hệ không bình đẳng: Cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước, theo quy định của pháp luật, có quyền áp dụng các quyết định đơn phương hoặc thực hiện những hành vi bắt buộc đối với đối tượng bị quản lý. Nếu quyết định hoặc những hành vi đó trái pháp luật thì quyền và lợi ích hợp pháp của công dân sẽ bị xâm phạm, làm phát sinh khiếu kiện hành chính. Do đó, Toà án hành chính chỉ xem xét tính hợp pháp và ra phán quyết đối với các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước hoặc hành vi hành chính của nhân viên nhà nước khi thực thi quyền lực công. Đây là vấn đề phức tạp và khó khăn nhất đặt ra trước Toà án hành chính. Đồng thời, đây cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa Toà án hành chính và Toà án nhân dân (Toà án tư pháp).
Nếu như kết quả xét xử của Toà án nhân dân là xác định các quyền dân sự của công dân, pháp nhân trong vụ kiện dân sự hoặc xác định trách nhiệm hình sự của một cá nhân trong vụ án hình sự (xác định tội danh và áp dụng khung hình phạt), thì kết quả xét xử của Toà án hành chính là phán quyết về tính hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước. Hệ quả phán quyết của Toà án hành chính là xác định quyết định hoặc hành vi đó đúng hay sai; nếu sai thì phải chấm dứt, sửa đổi hay huỷ bỏ một phần hoặc huỷ bỏ toàn bộ đã gây thiệt hại chưa, nếu đã gây thiệt hại thì cơ quan ra quyết định phải bồi thường cho công dân. Ngay cả bồi thường thua kiện ở đây cũng không có nghĩa là bồi thường dân sự của người thua kiện bồi thường cho người được kiện, mà là cơ quan nhà nước bị thua kiện và bị Toà án hành chính phán quyết phải bồi thường cho công dân.
Như vậy, thông qua quá trình xét xử, Toà án hành chính không làm nhiệm vụ xác định tội danh và áp dụng khung hình phạt, không xác định quyền dân sự, quyền sở hữu tài sản của công dân trong tranh chấp dân sự, không xác định tính hợp pháp của hợp đồng kinh tế trong vụ kiện kinh tế. Toà án hành chính chỉ xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực công. Từ đây, khái niệm “ra toà” hay “hầu toà” tại Toà án tư pháp như số đông chúng ta vẫn quen hiểu từ trước tới nay cũng phải được hiểu khác đối với Toà án hành chính.
Mặt khác, vấn đề chứng cứ, điều tra, tranh tụng và tranh luận đối với Toà án hành chính cũng cần có quan niệm khác hơn đối với Toà án tư pháp. Chúng tôi hy vọng có nhiều dịp trao đổi về những vấn đề này một cách sâu sắc và đầy đủ hơn.
Vì có nét đặc thù riêng, nên tố tụng hành chính chủ yếu là tố tụng viết. Người kiện làm đơn kèm theo các văn bản chứng minh cho căn cứ pháp lý của mình. Bên bị kiện và các cơ quan, đơn vị hữu quan có văn bản giải trình. Thẩm phán xác minh lời giải trình của các bên. Quá trình điều tra, xác minh đối với vụ kiện hành chính gọi là quá trình thẩm cứu. Ngay cả khái niệm “mở phiên toà xét xử” đối với Toà án hành chính cũng cần nghiên cứu lại cho phù hợp với tính đặc thù của tài phán hành chính.
Nếu như đối tượng chấp hành các bản án, quyết định của Toà án nhân dân là công dân hoặc pháp nhân thì đối tượng chấp hành các phán quyết của Toà án hành chính chủ yếu là cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước (có chức, có quyền). Do đó, việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án hành chính cũng không thể áp dụng như Toà án hành chính cũng không thể áp dụng như Toà án nhân dân, vì vậy nhiều nước có Toà án hành chính đã không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Toà án hành chính như đối với Toà án nhân dân.
Thẩm phán Toà án hành chính cũng rất khác với Thẩm phán Toà án nhân dân. Đó không chỉ là những người có kiến thức pháp lý mà còn phải là những công chức có kiến thức về quản lý nhà nước và am hiểu các ngành kinh tế - kỹ thuật khác như: tài chính, thuế, nhà đất, xây dựng…
Vì vậy, nhiều nước đã có hình thức tuyển chọn và nguồn đào tạo khác nhau vể hai loại Thẩm phán.
Tóm lại, đối với chúng ta, tài phán hành chính là một vấn đề mới mẻ. Xác định tính đặc thù nói trên của tài phán hành chính là điều rất quan trọng để xác định các vấn đề về mô hình tổ chức, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, trình tự tố tụng… của Toà án hành chính./.
PGS.PTS. Lê Bình Vọng
Vụ trưởng, Thanh tra nhà nước
Nguồn: www.giriac.vn