Thực trạng và giải pháp phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em
17:5' 15/6/2009


1-Thực trạng tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em .-

 +Thông tin mới nhất mà chúng tôi đã đọc được trên số báo Công An TP Hồ Chí Minh ra ngày chúa nhựt 22-4-2007 sau khi tổng kết giai đoạn I chương trình hành động chống tội phạm buôn bán PNTE 2004-2006;

-“Trong 2 năm 2005-2006, cả nước phát hiện 568 vụ, 993 đối tượng phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em. Trong số 1.518 nạn nhân, số phụ nữ bị lừa bán ở lứa tuổi từ 18 đến 35 chiếm đa số, gồm 511 vụ với 882 đối tượng tham gia.”
-“ So với năm 2005, số vụ buôn bán PNTE của năm 2006 được phát hiện nhiều hơn 72%; số đối tượng tăng 89% và số người bị hại tăng 138%”
-“Từ năm 1998 đến nay (9 năm) cả nước xác định được 33 tuyến, 139 địa bàn trọng điểm thường diễn ra hoạt động buôn bán PNTE ra nước ngoài; đưa vào diện quản lý 2.048 đối tượngvới 654 đối tượng có liên quan, lập danh sách 5746 PNTE bị bán ra nước ngoài; 7940 PNTE vắng mặt lâu ngày tại địa phương nghi đã bị bán.”

Cho đến nay, theo thống kê, có  5746 PNTE được đưa vào danh sách chính thức bị bán ra nước ngoài là ; và 7940 PNTE vắng mặt lâu ngày tại địa phương bị nghi là đã bị bán. Như vậy trên 13.000 mảnh đời PNTE VN đã ghi nhận là nạn nhân của tội ác buôn bán PNTE,  đã bị vùi chôn nghiệt ngã trong những địa ngục  trần gian mà những người có lương tri không bao giờ có thể tưởng tượng được. Và trong đó bao nhiêu người hiện còn đang sống với nỗi đọa đày xác thân bị vùi dập ngày đêm làm trò tiêu khiển và mang lại lợi nhuận cho những loại người không còn nhân tính; bao nhiêu người đang rên siết trong bệnh hoạn, cô đơn, trong nỗi niềm tuyệt vọng, và bao nhiêu người đã  chết dần mòn trong đớn đau tủi nhục....

Bài báo đã nêu thực trạng:

Mặc dù phong trào phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em (PNTE) được thực hiện rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, nhất là PNTE ở các vùng có nguy cơ cao đã được nâng cao, song tình hình hoạt động của tội phạm buôn bán PNTE vẫn diễn biến phức tạp. Tính chất và qui mô hoạt động phạm tội có chiều hướng gia tăng, có tổ chức chặt chẽ  và xuyên quốc gia...Bọn tội phạm thường lợi dụng triệt để số PNTE ở các vùng nông thôn nghèo, có trình độ học vấn thấp,hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hứa tìm việc làm thích hợp, nhẹ nhàng ở thành phố, thị xã với mức lương ổn định, sau đó tìm mọi cách đưa qua biên giới  bán cho các chủ chứa hoặc các tổ chức tội phạm ở nước ngoài.”

Một cách tổng quát, khi nói đến vấn đề buôn bán PNTE, ai cũng bức xúc nghĩ ngay đến những kẻ tội phạm đã làm những hành vi tội ác vô nhân, và mong muốn góp phần tìm những phương cách để tiêu diệt, để ngăn chận nó, để chấm dứt những bi kịch đau thương trong đó không chỉ nhân phẩm con người bị chà đạp mà cả tính mạng con người cũng bị rẻ rúng, nhất là đối với trẻ em vô tội mà tại Hội nghị tổng kết, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã phát biểu: “Thật đáng buồn và đau lòng. Ngày càng nhiều trẻ em bị coi là hàng hóa, rao bán”. Ông Trọng yêu cầu, các cơ quan cần nhìn thẳng vào sự thật vì “không gì quan trọng bằng tính mạng con người”. Điều này mới có ý nghĩa ở góc độ luật pháp. Tuy nhiên,  vượt lên trên đó, đây là một vấn đề xã hội phức tạp liên quan lĩnh vực tâm sinh lý và phạm trù đạo đức vô cùng nghiêm trọng, khó có thể giải quyết một cách chủ quan cảm tính mà cần phải có sự phân tích rạch ròi các nguyên nhân để tìm ra những giải pháp phòng chống tích cực hiệu quả .
Theo lời của tiến sĩ Lê Bạch Dương, Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội ở Hà Nội, thì ở Việt Nam, việc buôn bán phụ nữ và trẻ em đã xảy ra từ cuối những năm 80, nhưng việc này chỉ xảy ra  lẻ tẻ ở một vài nơi mà thôi, mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ   sự mở cửa kinh tế, buôn bán dọc theo biên giới Việt Nam và Trung Quốc. Tại các chợ biên giới do có rất nhiều người từ Việt Nam sang để làm cửu vạn, khuân hàng, chuyển hàng…và những “dịch vụ vui chơi, giải trí” đã hình thành .

Đó chính là đầu đến của những việc buôn bán phụ nữ và trẻ em từ Việt Nam sang Trung Quốc. Tệ nạn này càng ngày càng phát triển, nhất là vào những năm 90 trở đi cho đến bây giờ thì đã trở thành vấn đề rất lớn. Theo Thứ trưởng Bộ Công an Lê Thế Tiệm, phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị đưa ra nước ngoài chủ yếu bằng đường bộ qua các tuyến biên giới. Tại khu vực biên giới Trung Quốc, bọn tội phạm chủ yếu “xuất khẩu” người làm gái mại dâm hay con nuôi. Còn tại biên giới giáp Campuchia, Lào, chúng đưa phụ nữ sang làm gái mại dâm, hoặc làm điểm trung chuyển để mang sang nước thứ ba. Đa số các vụ buôn người đều có “bàn tay” của các đường dây tội phạm xuyên quốc gia, mang lại cho chúng lợi nhuận khổng lồ.

Hàng năm, có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em Việt Nam đã trở thành nạn nhân của những vụ mua bán người, hầu hết những nạn nhân này bị đưa sang Trung Quốc và Campuchia, và cũng có người bị đưa sang Đài Loan, Thái Lan, Singapore và Nam Triều Tiên. Theo UNICEF, những nạn nhân này, trong số đó có 98% là phụ nữ, hầu hết bị đem bán để hoạt động mại dâm và cưỡng  bức hôn nhân, cũng như lao động cưỡng bức hay làm nô lệ, đôi khi họ cũng bị đem bán để lấy nội tạng.

Đau lòng nhất là thực trạng trẻ em bị mua bán để phục vụ tình dục  bệnh hoạn được thể hiện qua một đoạn của cuốn phim tài liệu “Children For Sale” do Dateline NBC thực hiện, được trình chiếu. Phim cho thấy có nhiều trẻ em VN mới lên 5 tuổi bị bắt bán dâm tại làng Svay Pak ở Campuchia, rất thương tâm. Cơ quan International Justice Mission (IJM) do Bà Luật Sư Sharon Cohn, Phó Chủ Tịch cơ quan IJM. bao vây bất ngờ và đã cứu thoát 37 em. Có 8 thủ phạm đã bị truy tố và bị toà án Campuchia kết án từ 5 đến 20 năm tù.

Kết hôn trá hình
Việc mua bán phụ nữ còn đựơc đề cập qua hình thức “kết hôn” với người Đài Loan qua các cá nhân hay tổ chức môi giới, theo con đường xuất cảnh hợp pháp, mà cũng theo Tiến sĩ Dương, phong trào này nở rộ từ khoảng năm 2000, và đến nay có khoảng 90.000 cô dâu Đài Loan. Hiện nay phong trào bắt đầu lan sang Hàn Quốc, điển hình, tháng 9/2006, tại Bình Dương, một nhóm buôn người đã dựng đám cưới giả để 41 người Hàn Quốc chọn 266 phụ nữ Việt Nam làm vợ. Hay ở Cần Thơ, hơn 130 phụ nữ đã coi là món hàng để những người đàn ông ngoại quốc lựa chọn.

Tuy nhiên, ông Dương cho rằng khó kết luận vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan gắn với mua bán phụ nữ, vì họ đi hợp pháp, cũng đăng ký kết hôn đàng hoàng, cũng sống và hoà nhập vào cộng đồng. Tất nhiên, cũng xảy ra một số trường hợp như bị gia đình nhà chồng đối xử không tốt, thậm chí cũng có một số trường hợp bị bán vào mãi dâm. Do trong bối cảnh thiếu sự giám sát, sự phối hợp giữa Đài Loan và Việt Nam, giám sát các hoạt động môi giới, nên đã mở ra một mảnh đất màu mỡ cho việc buôn bán phụ nữ Việt Nam giả danh lấy chồng Đài Loan, nhưng cuối cùng để đưa vào những khu vực khác…”

Mới đây, công an và biên phòng đã phá đường dây buôn bán phụ nữ do một phụ nữ Việt và chồng Đài Loan câu kết với khoảng trên 70 người ở TPHCM và các tỉnh phía Nam. Với thủ đoạn rủ đi tìm việc làm, môi giới lấy chồng nước ngoài giàu có, chúng đã lừa hơn 126 phụ nữ đưa sang các nhà chứa ở Singapore, Malaysia, Đài Loan. Mỗi phụ nữ, chúng bán với giá khoảng 25.000 ringgit (tiền Malaysia) và được các đối tượng tại Malaysia trả công từ 1.500 đến 2.000 USD/người.

Xin trích lời Tiến sĩ Lê Bạch Dương trong khi trả lời phóng viên Đài VOA: “Khi tôi sang Singapore, có những phố mà phụ nữ Việt Nam làm mãi dâm ở Singapore một cách công khai. Ở nhiều nơi công cộng có những tấm biển quảng cáo lấy vợ Việt Nam cho người Singapore với giá 10 ngàn, 12 ngàn Mỹ kim…”

Theo tin của AFP, cảnh sát tại thành phố Hồ Chí Minh đã bắt giữ  thủ phạm đã đưa khoảng 30 phụ nữ Việt Nam ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long sang Malaysia kể từ năm 2003 với lời hứa hẹn là họ sẽ có việc làm tại đây. Tuy nhiên ngay khi đến nước này, họ đã bị bán làm gái mại dâm với giá 8000 đôla một người. Mạng lưới này đã bị phát hiện khi hai người phụ nữ trốn thoát và trở về Việt Nam.

Chân dung tội phạm

Liên Hiệp Quốc cho rằng nạn buôn bán người hiện nay lớn gấp 10 lần về quy mô
so với nạn buôn nô lệ vào thế kỷ 19 và đang là vấn đề nhức nhối của toàn cầu. Ước tính, hằng năm có khoảng 4 triệu người, phần lớn là phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Riêng ở khu vực Đông Nam Á có khoảng 200-250.000 phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của các băng nhóm tội phạm. Các nạn nhân thường bị bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động và phải đi ăn xin có tổ chức.
 
Tại Việt Nam, vấn nạn này đang có chiều hướng gia tăng. Những phụ nữ trẻ chưa chồng, trình độ học vấn thấp và hầu như không có thông tin đều là những đối tượng có nguy cơ bị lừa gạt cao. Các nạn nhân thường bị lừa sang Trung Quốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan. Hành vi lừa gạt, câu móc của bọn tội phạm rất tinh vi. Ngoài thủ đoạn dụ dỗ phụ nữ đi làm xa, lấy chồng ngoại, bọn lừa đảo còn "sáng tạo" ra những chiêu thức mới như qua hình thức du học, lao động xuất khẩu, du lịch. Điển hình như một trường hợp ở Hải Dương. Nạn nhân được một nhóm người đến giới thiệu, mời chào đi du học. Em gái này không những phải mất hơn 10 triệu đồng để lo lót "thủ tục" mà còn bị bán cho một nhóm người ở Trung Quốc.

Đau lòng hơn khi một gia đình ở Nghệ An mất cả 3 đứa cháu gái. Mọi chuyện bắt đầu khi một nhóm người đến giới thiệu là đại diện của một công ty xuất khẩu lao động đi tuyển người, cả gia đình đã chạy vạy lo lót cho ba đứa cháu được đi "Tây" làm việc. Nhưng một năm trời trôi qua, gia đình không hề nhận được tin tức của những đứa trẻ này. Chẳng ai biết chúng ở đâu và cũng chẳng biết công ty nào đã đưa cháu mình đi nước ngoài. Lo lắng và ân hận, mọi người đều cứu cạnh khắp nơi, mong nhận được tin tức của con cháu mình

Qua những thực trạng đã nêu  thì có thể kết luận, trong vấn đề buôn bán PNTE tại Việt Nam hiện nay, mánh lới lường gạt của bọn buôn người rất đa dạng, nhưng chủ yếu gồm các hình thức:
Dùng tiền bạc để lung lạc cha mẹ của nạn nhân.
Môi giới hôn nhân, xuất khẩu lao động hay du lịch
Giới thiệu việc làm có thu nhập cao.
Lợi dụng tình cảm các cô gái rồi gạt đem bán.
-    Cưỡng ép dưới nhiều hình thức: cho mượn nợ, hăm dọa...
Bắt cóc: bằng thuốc gây mê rồi chuyển đi

Nạn nhân của những đường dây “buôn người” này thường tập trung ở nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, các tỉnh giáp biên giới. Những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm, gặp cảnh “éo le” về tình cảm, thiếu hiểu biết xã hội, nhẹ dạ cả tin thường là đối tượng bị chúng dụ dỗ. Với những lời hứa hẹn, giúp đỡ một việc làm ổn định, thu nhập cao, hoặc lấy một người chồng nước ngoài khá giả, những cô gái nghèo, nhẹ dạ đã bị lừa đưa sang đất khách quê người. Cũng có những có gái trẻ, thích hưởng thụ, bị dụ dỗ đi du lịch, tham quan… và rơi vào cảnh ngộ bị… bán. Đau đớn hơn, có những nạn nhân bị chính những người thân của mình lừa gạt đem đi bán... Và cả những trường hợp vì nhiều lý do, các cô gái tự nguyện chọn lựa con đường “bán thân” để mong đổi đời theo sự suy nghĩ hạn hẹp của mình, không lường hết được những sự nguy hiểm, khổ đau cùng cực sẽ xảy ra mà cuối cùng vẫn không đạt được mục đích kiếm tiền, trái lại còn mất cả tương lai và mạng sống. Chính vì thế khi đối diện với thực tế, họ không chịu nổi phải tìm cách trốn thoát; hoặc là trở thành tội phạm buôn bán dẫn đưa người khác đi vào con đường đau khổ mà mình đã từng là nạn nhân. Đó chẳng qua là tình trạng chung của mọi loại tội phạm trong xã hội, đã biết là tội lỗi nhưng vẫn nhắm mắt đưa chân.

Từ nhận định này, tội phạm không chỉ là những kẻ buôn người, và đồng lõa cấu kết mà còn phải kể đến những người làm cha mẹ vô lương, đành lòng bán con, đôi khi chỉ với vài trăm đô la, không cần biết số phận nó ra sao! Và cả những cô gái lười lao động, thích hưởng thụ, sẵn sàng bán rẻ danh dự và nhân phẩm của mình.

Theo thông tin điều tra từ C14, tại VN, bọn tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em thường liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành những đường dây có tổ chức. Phương thức phổ biến nhất của những đối tượng chuyên mua bán phụ nữ, trẻ em thường dùng là: một người Việt Nam móc nối với một số đối tượng là người nước ngoài, hoặc là người Việt sinh sống, làm ăn ở nước ngoài (chủ yếu là ở Trung Quốc và Campuchia), tạo thành đường dây hoạt động buôn bán phụ nữ trẻ em.

Những địa điểm nóng nhất, thường xuyên diễn ra các “phi vụ buôn người” tập trung tại 14 tỉnh có biên giới giáp với Trung Quốc và Campuchia như: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Bình Phước… Những địa phương này, có địa hình hiểm trở, nhiều đường mòn, tạo điều kiện cho những kẻ “buôn người” đưa người qua biên giới trái phép, mà lực lượng biên phòng và công an rất khó kiểm soát.
 
Sau khi đưa qua biên giới bằng nhiều ngả đường, họ bị bán, và “sang tay” qua nhiều ông chủ, trải qua nhiều quốc gia, rồi bị đẩy vào những ổ chứa mại dâm, hoặc bị đưa sâu vào trong lãnh thổ, bán cho những người có nhu cầu lấy vợ, hay cần người giúp việc. Đê tiện hơn, một số kẻ còn dùng nhiều thủ đoạn đẩy phụ nữ, trẻ em hoặc gia đình họ vào con đường sa ngã, bị lệ thuộc như cho sử dụng ma túy, và sau đó khống chế, cưỡng ép làm theo ý chúng.

2-Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE.-

Vấn đề mang tính toàn cầu

Cần phải nhận thức rõ, vấn đề buôn bán PNTE ngày càng nghiêm trọng vì không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia mà mang tính toàn cầu, và bọn buôn người sẽ ngày càng tổ chức tinh vi khiến cho việc phòng chống trở nên khó khăn. Theo báo cáo của  Văn phòng Chống ma tuý và tội phạm của LHQ (UNDOC) mạng lưới buôn bán con người làm nô lệ tình dục hoặc lao động cưỡng bức đã toả "chân rết" tới tất cả các khu vực trên thế giới. Phần lớn các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Họ bị đưa qua nhiều trạm trung chuyển khác nhau, và bị buộc trở thành nô lệ lao động hoặc tình dục tại một quốc gia xa lạ. UNDOC ước tính, có tới 77% số nạn nhân là phụ nữ, 33% là trẻ em và chỉ có 9% là nam giới. Có 87% tổng số các nạn nhân này bị buộc trở thành nô lệ tình dục. Riêng trẻ em, mỗi năm có hơn 1 triệu em là nạn nhân của bọn buôn người.

Báo cáo chỉ rõ, trên thế giới có 127 quốc gia "cung cấp" nạn nhân, nhưng có tới 137 quốc gia là đích đến của các đường dây buôn người. 11 quốc gia đứng đầu về đích đến là Bỉ, Đức, Hy Lạp, Israel, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Anh. Điều này chứng tỏ, nhu cầu về nô lệ tình dục vẫn gia tăng trên thế giới. Các khu vực trung chuyển mà những đường dây này thường chọn là Albania, Bulgaria, Hungary, Italia, Ba Lan và Thái Lan.

Theo UNDOC, các nỗ lực chống nạn buôn người trên toàn cầu hết sức khó khăn bởi thiếu thông tin và dữ liệu đáng tin cậy. Ông Antonio Maria Costa - Giám đốc UNDOC - nhận định, các nỗ lực chống nạn buôn người giữa các nước cho đến nay vẫn chưa được phối hợp chặt chẽ và hữu hiệu.

Những thuận lợi trong việc phòng, chống nạn buôn PNTE tại VN.-

 Vấn đề phòng chống tội phạm buôn bán PNTE đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ngày 14-7-2004, và đến nay đã bước vào giai đoạn 2 (2007-2010).

 + Chương trình hành động quốc gia:

 Tại Hội nghị triển khai chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn 2007-2010, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã nêu rõ nguy cơ về tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền và các ngành chức năng tăng cường phối hợp để thực hiện tốt chương trình này trong 3 năm tới. Phó Thủ tướng cũng đề nghị 2 ngành Công an và Bộ đội biên phòng tăng cường công tác điều tra khảo sát , cập nhật, bổ sung đầy đủ thông tin vào dữ liệu có liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở địa phương và tập trung điều tra, khám phá các vụ án phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng xuyên quốc gia thông qua việc tổ chức các đợt cao điểm tấn công tội phạm trên dọc các tuyến biên giới. Thượng tướng Lê Thế Tiệm, Thứ trưởng Bộ Công an, cơ quan được giao thường trực Ban Chỉ đạo 130CP, cho rằng cần thực hiện tốt 2 biện pháp chính: đó là đẩy mạnh công tác truyền thông và đấu tranh trấn áp tội phạm. Thượng tướng Lê Thế Tiệm nhấn mạnh, từ nay đến 2010, đây là giai đoạn quyết liệt, Thủ tướng sẽ chỉ thị các cấp, các ngành tập trung triển khai đồng bộ quyết liệt hơn, trước hết tập trung công tác truyền thông mạnh mẽ để nâng cao ý thức cảnh giác của người dân trước bọn tội phạm dụ dỗ, lừa phỉnh phụ nữ, trẻ em đem bán ở nước ngoài. Một số văn bản pháp luật chưa được hoàn thiện, các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung trình Quốc hội thông qua Luật về chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em nhằm tạo một hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh có hiệu quả.
Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ VIỆT NAM đã có Quyết định 130 với 4 đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán người qua biên giới. Theo đó:
Đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do Bộ
Công an và Bộ Tư lệnh Biên phòng chủ công thực hiện.
Đề án tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về phòng chống tội phạm do Trung
ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì.
 Việc tiếp nhận những nạn nhân là phụ nữ, trẻ em từ nước ngoài trở về do Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội đảm nhiệm.
Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do Bộ Tư pháp chủ trì.
Ngoài ra hai bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư cũng có trách nhiệm thực hiện
những công việc liên quan.

 + Dự án hợp tác quốc tế:

 Mặt khác, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác với Dự án Phòng ngừa Buôn bán Phụ nữ và Trẻ em (BBPNTE) tại Tiểu vùng Mê Kông của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) kể từ năm 2001 (Giai đoạn I). Năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã ký 2 Văn bản Thỏa thuận cho phép mở rộng Dự án Phòng ngừa BBPNTE giai đoạn II ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Hoạt động tại các khu vực dự án mới này (bao gồm cả Tp Hồ Chí Minh) tập trung vào lĩnh vực phòng ngừa, thông qua nâng cao nhận thức cho các nhóm mục tiêu, đồng thời xác định các yếu tố nguy cơ đối với người di cư lao động ở tại cộng đồng nơi đi và cộng đồng nơi đến thông qua mối quan hệ đối tác với Bộ LĐTBXH, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các đối tác ở các cấp khác. Dự án Phòng ngừa BBPNTE của ILO cũng hợp tác với Quĩ Cứu trợ Nhi đồng Anh, Dự án Liên minh các Tổ chức LiênHợp Quốc (UNIAP), Tổ chức Di dân Quốc tế (IOM) và các tổ chức quốc tế khác vận động cho sự tham gia tư vấn của trẻ em đối với các quyết định chính sách về phòng chống BBPNTE.

 + Xác nhận những điểm nguy cơ:

-Năm 2005, Dự án Phòng ngừa BBPNTE của ILO giai đoạn II tại Việt Nam- Kế hoạch 2006 – 2008:  nhận được phê chuẩn của Chính phủ cho phép hoạt động tại Tp Hồ Chí Minh, là một điểm đến lớn đối với  nhiều lao động nhập cư, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em đến từ các khu vực nông thôn. Việc này đã mở ra cơ hội nghiên cứu các khu vực được coi là điểm đến đối với các lao động nhập cư và gia đình họ nhằm xác định các yếu tố nguy cơ trước những kẻ buôn người.

-Tp Cần Thơ cùng các khu công nghiệp gần đó cũng là những điểm đến phổ biến của lao động nữ trẻ và đã được Dự án xác định là khu vực “tiếp nhận” tiềm năng của nạn buôn người trong nước.

-Thanh Hóa là khu vực “nguồn” của phụ nữ và trẻ em nguy cơ. Một số trong số họ đã bị bán sang Trung Quốc. Quảng Ninhđược coi là khu vực “nguồn và trung chuyển” của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em sang Trung Quốc.
  -Các báo cáo cho thấy một số tỉnh miền Nam như Tây Ninh, Hậu Giang, Cần Thơ là những khu vực “nguồn” chính của tội phạm buôn bán người sang Campuchia. Phụ nữ ở các khu vực này cũng bị bọn môi giới hôn nhân tiếp cận để lừa bán sang Đài Loan.

Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả

Không thể phủ nhận trong những năm qua, Chính phủ VN  đã có rất nhiều nỗ lực
và hiện vẫn đang tích cực tiếp tục đề ra những giải pháp nhằm ngăn chận nạn buôn bán PNTE, nhưng thành thật mà nói, vẫn chưa đạt hiệu quả cao, trong khi tình hình tội phạm đang có xu hướng phát triển, cụ thể là riêng tại Campuchia,  qua khảo sát, trong số khoảng hơn 18.000 người phục vụ trong lĩnh vực tình dục, trong số đó có 66% là người Khmer, 33% là người Việt Nam và 1% là người các nước khác; và sắp tới với chiều hướng mở rộng, trẻ em, phụ nữ có thể bị đưa sang các nước châu Á, châu Âu, Hoa Kỳ để bán các cơ quan nội tạng, làm gái mại dâm… thì  thời Việt Nam có thể là điểm trung chuyển của loại tội phạm này. Bọn tội phạm sẽ đưa các đối tượng phụ nữ, trẻ em từ Campuchia, Lào… sang Việt Nam sau đó chuyển tiếp sang các nước khác.

 + Phải có sự phối hợp chặt chẽ về pháp luật với các nước láng giềng liên quan

 Để có thể kiểm soát ngăn chận việc buôn bán PNTE qua biên giới, VIỆT NAM phải có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền các nước láng giềng có liên quan như  Trung Quốc và Campuchia  trong việc phòng, chống tội phạm này  với việc hoàn chỉnh khung pháp lý phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nước, và luật phải được thi hành nghiêm minh rốt ráo.

Hiện nay, tại Campuchia dù có luật về bài trừ nạn mua bán phụ nữ trẻ em có từ 1996 nhưng  đến nay kết quả thực hiện cũng rất hạn chế, lại chỉ bắt được một vài vụ nhỏ xảy ra trong nội địa, những vụ buôn người xuyên biên giới thì chưa phát hiện được trong khi chưa có luật về mại dâm và chưa có luật về bằng chứng nên khó khăn trong xét xử loại tội phạm này.  Thời gian đưa ra xét xử các vụ án liên quan tới mua bán phụ nữ, trẻ em cũng rất lâu, sơ thẩm từ 4 đến 6 tháng, phúc thẩm từ 1 đến 2 năm, làm cho nạn nhân chán nản không muốn tham gia tố tụng.. Đó là chưa kể đa số nạn nhân ra trước tòa đều lên tiếng bảo vệ chủ chứa, nói bị cảnh sát ép khai như vậy.

+ Xóa đói giảm nghèo- Nâng cao trình độ dân trí

  Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng phụ nữ, trẻ em bị lừa bán ra nước ngoài do Bộ Công an hợp tác với tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc) thực hiện, nguyên nhân chủ yếu để dẫn đến tình trạng trên ngày càng tăng là do đời sống kinh tế còn nghèo nàn, trình độ dân trí, sự hiểu biết còn thấp. Trong số trên 1.750 nạn nhân của những vụ “buôn người”, có hơn một nửa là người mù chữ hoặc chỉ dừng lại ở cấp tiểu học. Nghề nghiệp của các nạn nhân trước khi bị lừa bán ra nước ngoài chủ yếu là làm ruộng và thất nghiệp. Những khó khăn trong cuộc sống, hạn chế về trình độ nhận thức đã “đẩy” họ trở thành “miếng mồi” ngon cho những tên “buôn người”.

 Như vậy, phải giải quyết bài toán xã hội là sự đói nghèo cả 2 mặt vật chất lẫn tinh thần, vì việc phòng chống tệ nạn buôn bán PNTE chỉ đạt được hiệu quả tích cực với sự tham gia của chính những đối tượng có nguy cơ trở thành nạn nhân. Nói một cách cụ thể, là làm sao cho tất cả người dân có đời sống kinh tế ổn định, có công ăn việc làm, có khả năng thu nhập để có thể thỏa mãn phần nào nhu cầu đời sống trong nền kinh tế thị trường có quá nhiều hàng hóa, tiện nghi. Thêm vào đó, người dân phải có nền tảng tri thức tối thiểu để không chỉ hiểu được những điều luật pháp cấm đoán mà còn phải nhận thức được giá trị nhân bản của chính mình mà không làm những điều đi ngược với đạo đức xã hội.

 Để làm được điều này, cần có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập qua dạy nghề, cho vay vốn...cho đối tượng phụ nữ có nguy cơ cao ở những vùng khó khăn, song song với việc trang bị kiến thức cho họ về nguy cơ bị buôn bán với viễn ảnh tương lai đen tối nếu chẳng may bị sa vào. Thực tế hiện nay, chỉ mới tại thành phố Hồ Chí Minh, được Hội Liên Hiệp Phụ nữ các cấp triển khai có hiệu quả các chương trình hỗ trợ cho vay vốn, tìm việc làm....nhưng vẫn còn một số nơi còn ngại khó chưa thực sự  tích cực, nên hiệu quả còn hạn chế.

 Vấn đề thực sự xóa mù chữ, phổ cập giáo dục cũng hết sức cần thiết cho những đối tượng  có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán PNTE, vì nhờ đó họ có thể tiếp cận với mọi thông tin từ các phương tiện truyền thông để tự bảo vệ mình. Đồng thời sự mở mang trí óc bằng kiến thức học hành căn bản cũng giúp rất nhiều cho con người nhận ra những điều phải trái.

 Cần đưa vào chương trình giáo dục ở bậc Tiểu học và Trung học vấn đề buôn bán PNTE với những phương thức phòng ngừa trong môi trường xã hội phức tạp cũng như giúp cho các em thấy được tính chất phi nhân tội ác của để các em hình thành ý thức đạo đức ngay từ tuổi nhỏ. Do vậy, ngành giáo dục cũng phải dự phần tham gia chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE.

 +Tăng cường hiệu quả của việc tuyên truyền phổ biến giáo dục

 Mặt khác, phải triển khai rộng rãi chương trình hành động qua các cuộc tuyên truyền phổ biến giáo dục thường xuyên đến nhân dân, mà các đoàn thể địa phương, khu phố, tổ dân phố là lực lượng nòng cốt, để vừa giúp người dân cảnh giác đối với thủ đoạn của bọn tội phạm, vừa xây dựng họ thành lực lượng phòng, chống, phát hiện kịp thời bọn tội phạm ngay khi chúng manh nha tội ác. Đồng thời cũng cần có biện pháp đối với những loại người vô tình, thờ ơ trước tội ác. Nếu có sự góp tay của quần chúng thì không thể nào tồn tại những điểm tập kết phụ nữ, trẻ em như đã xảy ra rất nhiều trong thời gian qua tại tp.HCM. Ngoài ra cũng sẽ có tác động dối với thành phần phụ nữ lười lao động, có khuynh hướng thích sống thiên về bản năng hưởng thụ, sẵn sàng bán rẻ danh dự, thân xác mình, mà “chương trình 3 giảm” của thành phố đã có những biện pháp để nhằm đẩy lùi tệ nạn mãi dâm, nhưng vẫn còn tồn tại lén lút, và đây cũng chính là những đầu mối nguy cơ dẫn dắt cho việc buôn bán PNTE ra nước ngoài.

 Đối với trẻ em, đã có Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em các cấp chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, thành thật mà nói, lực lượng này ở nhiều địa phương còn thiếu năng lực và nhiệt tình, cho nên vẫn còn rất nhiều tình trạng trẻ em bỏ học, trẻ em bị cha mẹ ngược đãi, bị bán, mà không hề được địa phương quan tâm. Nếu mỗi phường, mỗi xã chú ý hơn đến từng gia đình để biết được hoàn cảnh của các em trong địa phương mình và sẵn sàng can thiệp giúp đỡ kịp thời, chận đứng mọi trường hợp vi phạm quyền trẻ em, để các em
được sống trong sự chở che, bảo bọc của người lớn, thì vấn đề buôn bán trẻ em không thể nào tồn tại.

Kết luận: 

Buôn bán PNTE không chỉ là  vấn đề xã hội đơn thuần, mà là sự biểu hiện của tình trạng suy đồi đạo đức đến mức phi nhân và đã trở thành vấn nạn trong cộng đồng thế giới loài người mà nếu không giải quyết được, đó chính là những gam màu xám đen làm lem luốc, phá hỏng toàn cảnh bức tranh văn minh nhân loại  cho dù  về phương diện khoa học kỹ thuật vật chất, con người có tiến bộ đến đâu  đi nữa. Bởi lẽ đó, việc phòng chống ngăn chận tội phạm mua bán phụ nữ trẻ em là trách nhiệm chung của tất cả những ai còn lương tri, còn biết suy nghĩ về lẽ phải, về sự công bình, về tình người, để cùng góp phần vào sự ổn định của xã hội mà cũng là sự bình an cuộc sống của chính mình.

Việc đấu tranh với tội phạm sẽ vô cùng khó khăn; chừng nào con người vẫn còn đặt nhu cầu tình dục lên trên nhân cách đạo đức thì vấn đề buôn bán PNTE vẫn còn xảy ra. Cho nên, việc phòng, chống loại tội phạm  này đòi hỏi sự nỗ lực tham gia của toàn xã hội, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của chính quyền hay các tổ chức, đoàn thể nào đã được phân công.

Luật gia Phan Thị Việt Thu

Nguồn: www.ibla.org.vn

Các tin tiếp
Các tin trước
Bàn thêm về rửa tiền    (14/6/2009)
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất