Tăng cường việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự.
15:1' 21/8/2009

Bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những điều Hiến định của Nhà nước ta

Hoạt động tố tụng hình sự liên quan rất chặt chẽ với quyền tự do, dân chủ của công dân. Có thể nói, tăng cường việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự nói chung, trong xét xử vụ án hình sự ,đặc biệt ở giai  đoạn tranh luận tại phiên toà nói riêng, từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.



* Thực trạng bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự  Bộ luật Tố tụng hỡnh sự (BLTTHS) quy định  cụ thể, chặt chẽ trình tự, thủ tục xét xử vụ án hình sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc phiên toà để đảm bảo cho việc xét xử khách quan, chính xác, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân.

         Thủ tục tố tụng tại phiên toà nhìn chung được thực hiện tốt theo đúng quy định của BLTTHS, thể hiện chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02 thỏng 01 năm 2002 của Ban Chấp Hành Trung ương “về một số nhiệm vụ trọng tõm cụng tỏc tư phỏp trong thời gian tới”

Các Toà án đã thực hiện Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trang phục của bị cáo tại phiên toà; các bị cáo bị tạm giam không phải mặc đồng phục phạm nhân; việc xưng hô tại phiên toà đã có tiến bộ đáng kể; các đại từ mang tính mạt sát, coi thường như “Y”, “thị’, “đồng bọn”…,cơ bản đã được bãi bỏ và thay vào đó là các thuật ngữ pháp lý theo địa vị tố tụng (bị cáo, người bị hại, người làm chứng…) ,thái độ của những người tiến hành tố tụng trong điều khiển, xét hỏi, tranh luận nhìn chung cú chuyển biến theo mực thước văn hoá pháp lý, phù hợp với truyền thống dân tộc; tình trạng quát nạt, mạt sát, hù doạ bị cáo, người tham gia tố tụng càng ngày càng được hạn chế, từ đó tránh được việc gây nên sức ép tâm lý đối với người tham gia tố tụng, nhất là đối với bị cáo, làm ảnh hưởng đến tõm lý tinh thần  tự bào chữa, tranh luận của họ.

Cùng với những ưu điểm trên, từ góc độ tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, theo chúng tôi, trong việc thực hiện các thủ tục xét xử vụ án hình sự nói chung,  ở giai đoạn tranh luận tại phiên toà nói riêng, còn có những điểm hạn chế và bất cập làm ảnh hưởng việc tranh tụng trước toà, như sau:

 Thứ nhất, việc xét xử vắng mặt người bào chữa cũng đang gặp những vướng mắc. Điều 190 BLTTHS quy định trong những trường hợp thông thường, “nếu người bào chữa vắng mặt Toà vẫn mở phiên toà xét xử”. Quy định này có hai cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Quan điểm thứ nhất cho rằng trong trường hợp này Toà án bắt buộc phải mở phiên toà mà không được hoãn dù bất kỳ lý do gì. Quan điểm thứ hai thì cho rằng Toà án có quyền mở phiên toà, nhưng cũng không loại trừ khả năng Toà án quyết định hoãn phiên toà nếu thấy rằng người bào chữa vắng mặt có lý do chính đáng (ốm đau, thiên tai…) và việc người bào chữa vắng mặt sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bào chữa cho bị cáo;

 Thứ hai, trong thực tiễn, tuyệt đại đa số các trường hợp người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt thì Toà án vẫn xét xử vụ án. Việc người tham gia tố tụng không có mặt đã ảnh hưởng rất lớn đến vệc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên toà, vì họ không được trình bày ý kiến, không được tranh luận để bảo vệ quyền lợi của mình v.v…

 Thứ ba, thủ tục tố tụng tại nhiều phiên toà vẫn còn hạn chế việc thực hiện quyền tố tụng của người tham gia tố tụng, như:

+ Giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng cho những người tham gia tố tụng chưa đầy đủ hoặc không rõ ràng, nhất là các quyền liên quan đến việc tranh tụng; việc bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện quyền tố tụng của mình còn mang tính hình thức;

+ Trong xét hỏi chưa tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng, nhất là bị cáo trình bày hết ý kiến của mình về các tình tiết của vụ án; các tài liệu, chứng cứ dùng làm căn cứ cho bản án, quyết định chưa được công bố công khai tại phiên toà nên người tham gia tố tụng không được biết để trình bày ý kiến của mình về các tài liệu, chứng cứ đó nhằm bảo vệ lợi ích của mình khi tranh tụng. Các Toà án còn lúng túng trong việc xét hỏi do BLTTHS không quy định cụ thể thứ tự xét hỏi; thậm chí có trường hợp cho rằng xét hỏi tại phiên toà có thể được thực hiện bắt đầu bằng việc hỏi người làm chứng, chứ không phải là bị cáo hay người tham gia tố tụng khác…;

+ Trong tranh luận vẫn có những trường hợp chủ toạ phiên toà  hạn chế thời gian trình bày ý kiến của người tham gia tố tụng, nhất là người bào chữa; chưa yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận đối đáp với tất cả ý kiến của người tham gia tố tụng;

+ Văn hoá xét xử tại phiên toà vẫn còn nhiều hạn chế. Cách xưng hô thiếu thống nhất, thậm chí một số trường hợp còn cú thái độ hách dịch, coi thường người tham gia tố tụng của người tiến hành tố tụng. Nhiều nơi vẫn còn tồn tại, một số trường hợp Kiểm sát viên điều hành phiên toà thay cho Chủ toạ,… Các tình trạng trên một mặt làm giảm uy tín của cơ quan xét xử; mặt khác tạo nên áp lực xấu ảnh hưởng đến tâm lý bị cáo, người tham gia tố tụng khác, làm cho họ không đủ khả năng tâm lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong khai báo, trong tranh luận.

+ Các Toà án còn lúng túng về trình tự tranh luận trong các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 BLTTHS thì trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà. Thế nhưng người bị hại, đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội vào lúc nào, buộc tội ra sao thì các Toà còn lúng túng. Mặc dù Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn trong trường hợp này người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại tham gia tranh luận theo trình tự thông thường[1]. Chúng tôi cho rằng hướng dẫn đó chưa giải đáp được vướng mắc trong thực tiễn.

* Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế:

Những bất cập, hạn chế trong xét xử của các Toà án làm ảnh hưởng đến quyền tự do dân chủ của công dân nêu trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có những nguyên khách quan; hoặc do chủ quan của chủ thể tiến hành tố tụng. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

    - Thứ nhất, do bất cập trong các quy định của BLTTHS, chẳng hạn:

   +Theo quy định của Điều 191 BLTTHS thì tuỳ trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà mà không quy định một điều kiện cụ thể nào. Vì vậy, trên thực tế tuyệt đại đa số các trường hợp vắng mặt những người tham gia tố tụng đó Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án;

     Chúng tôi cho rằng, trình tự xét hỏi tại phiên toà nhìn chung là do Hội đồng xét xử quyết định để xác định sự thật khách quan của vụ án; thế nhưng việc quá lạm dụng quyền hạn đó để gây áp lực tâm lý cho bị cáo, nhân vật trung tâm của vụ án, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự và có nguy cơ phải chịu các hậu quả pháp lý nặng nề, buộc họ khai báo theo định hướng chủ quan của Hội đồng xét xử qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, làm ảnh hưởng đến khả năng bào chữa của họ ở giai đoạn tranh luận,là không đáp ứng nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự.

  + Trong một số trường hợp BLTTHS quy định quyền tố tụng của người tham gia tố tụng nhưng không quy định trình tự, thứ tự để thực hiện quyền đó, gây lúng túng cho Toà án trong xét xử vụ án và hạn chế người tham gia tố tụng thực hiện quyền tố tụng được quy định đó, chẳng hạn như: Khoản 3 Điều 51 BLTTHS quy định “Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại… thì người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà”. Thế nhưng trong Chương XXI về tranh luận tại phiên toà lại không có quy định thứ tự, thủ tục buộc tội của người bị hại trong trường hợp trên nên Chủ toạ phiên toà vẫn điều hành việc tranh luận theo thủ tục thông thường;

   -Thứ hai, do trình độ, năng lực và quan điểm,nhận thức của người tiến hành tố tụng.

  Một người chỉ bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Toà án là nguyên tắc quan trọng được Hiến pháp và BLTTHS quy định. Còn bị can, bị cáo mới chỉ là người bị nghi là phạm tội và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cũn định kiến đối với bị can, bị cáo; quan niệm áp dụng các quy định của BLTTHS thế nào để thuận tiện cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, cho được việc mình của người tiến hành tố tụng, không lưu tâm đến lời bào chữa, có định kiến với bị cáo sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét xử… đã ảnh hưởng không ít đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự, không ít trường hợp làm oan người vô tội.

 - Thứ ba, chế độ trách nhiệm chưa thật nghiêm minh đối với các vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân.

             Cho đến nay chúng ta chỉ mới có Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17-3-2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Chưa có quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bị sai.

       * Một số kiến nghị giải pháp nhằm tăng cường việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự

          + Hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự

         Do những bất cập trong các quy định của BLTTHS và hướng dẫn thống nhất áp dụng thống nhất BLTTHS. Vì vậy, việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS có liên quan và tăng cường hướng dẫn áp dụng các quy định của BLTTHS trong xét xử vụ án hình sự là một trong những giải pháp quan trọng bảo đảm cho việc xét xử của Toà án chính xác, khách quan, là những điều kiện quan trọng để thực hiện việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân.

      . Hoàn thiện các quy định của BLTTHS:

          -Sửa đổi, bổ sung điều 190 BLTTHS về trường hợp xét xử vắng mặt người bào chữa với hướng mở  theo quan điểm thứ hai như đã nêu trên, để bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo,tăng cường tranh tụng.

          - Sửa đổi, bổ sung điều 191 BLTTHS về trường hợp xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng khác theo hướng:  Nếu  Người bị hại, Nguyên đơn, Bị đơn,… vắng mặt không lý do chính đáng và việc xét xử không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì vẫn tiến hành phiên toà; trường hợp vắng mặt lần đầu mà việc xét xử vắng mặt sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì phải hoãn phiên toà; nếu vắng mặt đến lần hai thì vẫn tiến hành phiên toà.

         - Bổ sung một đoạn vào khoản 1 Điều 217 BLTTHS về trình tự phát biểu khi tranh luận như sau: Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, thì tiếp theo lời luận tội của Kiểm sát viên, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đảm bảo lợi ích của người bị hại và tạo điều kiện để họ có thể tránh được những hậu quả bất lợi do yêu cầu khởi tố có thể xảy ra (như phải chịu án phí nếu Toà án tuyên không có tội, có thể bị yêu cầu xử lý về tội vu khốn…). Có như vậy mới phù hợp với quy định của khoản 3 điều 51 BLTTHS và bản chất của tranh luận là có buộc tội rồi mới đến bào chữa.

  Tăng cường hướng dẫn áp dụng BLTTHS:

      Cùng với việc hoàn thiện BLTTHS ; theo chúng tôi, trước mắt các cơ quan có thẩm quyền cần tập trung hướng dẫn một số vấn đề sau đây:

  - Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có hướng dẫn thống nhất về việc điều khiển phiên toà hình sự. Theo quy định của Điều 197 BLTTHS thì Chủ toạ chịu trách nhiệm điều khiển phiên toà. Thế nhưng trong thực tiễn, một số trường hợp Kiểm sát viên không tuân theo sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà, tự ý mời gọi, xét hỏi, phát biểu không xin phép chủ toạ; thậm chí có khi điều khiển phiên toà thay cho chủ toạ như nhắc nhở, chấn chỉnh người tham dự phiên toà, duy trì trật tự phiên toà, tự ý cắt ngang lời bào chữa của bị cáo, lời tranh luận của đương sự v.v…

      +Nâng cao nhận thức, trình độ của Thẩm phán, Hội thẩm

    Trong hoạt động xét xử, nhiều hành vi tố tụng (điều khiển phiên toà, văn hoá xét xử…) lại chưa được BLTTHS quy định; chúng được thực hiện tốt hay không, bảo đảm tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân hay không phụ thuộc vào khả năng, kinh nghiệm của từng người tiến hành tố tụng.

     Vì vậy, có thể nói tăng cường nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ văn hoá ứng xử cho Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án là giải pháp quan trọng đảm bảo cho hoạt động xét xử của Toà án đáp ứng yêu cầu tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân. Theo chúng tôi, để thực hiện giải pháp này cần tiến hành các biện pháp sau đây:

     - Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là kỹ năng xét xử cho đội ngũ Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm các Toà án; đối với cỏc Thẩm phỏn đó được bổ nhiệm trước đõy chưa qua đào tạo tại Học Viện Tư Phỏp, nờn cú chương trỡnh rỳt gọn để đào tạo lại đội ngũ này ( thời gian cú thể 2-3 thỏng)

     - Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, chính sách pháp luật, nhất là chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, quan điểm bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cho cán bộ Toà án các cấp;

     - Trong hoạt động kiểm sát xét xử, giám đốc xét xử của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới cần chú trọng hơn nữa tới việc kiểm tra văn hoá xét xử, năng điều khiển phiên toà để có thông báo rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng xét xử, tăng cường bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân.

    + Hoàn thiện chế độ trách nhiệm

 Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước công dân bằng việc hoàn thiện chế độ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng cũng là giải pháp cần thiết để bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự.

- Trước hết cần hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân trong hoạt động tư pháp nói chung, trong xét xử vụ án hình sự nói riêng. Theo chúng tôi, cần bổ sung vào Chương XXII BLHS một điều luật quy định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp. Bởi vì, trong BLHS mới chỉ có tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 301); còn thiếu trách nhiệm truy tố oan, sai, xét xử oan sai… thì chưa được quy định; còn nếu áp dụng Điều 285 BLHS để xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm đó thì không thật hợp lý.

- Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan, sai. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành nghị quyết về bồi thường thiệt hại không chỉ trong trường hợp oan, mà cả trong trường hợp điều tra, truy tố, xét xử sai gây thiệt hại cho công dân.  Hơn nữa, Điều 30 BLTTHS quy định bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự;

- Hoàn thiện chế độ kỷ luật đối với hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự. Những hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự thì tuỳ tính chất, mức độ phải được xử lý kỷ luật một cách hợp lý; phải được đánh giá để bãi miễn hoặc không tái bổ nhiệm các chức danh chuyên môn như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm.

 Tác giả: Lại Văn Trình
Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 4/2006


[1] Toà án nhân dân ti cao, Các văn bn v hình s, dân s, kinh tế, lao động, hành chính và t tng, 2005, tr. 50.

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất