Bài viết này xin đề cập đến việc phân tích khoa học nội dung của một phương hướng cơ bản (PHCB) trong những PHCB để nâng cao hiệu quả hệ thống tư pháp hình sự (TPHS) trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) Việt Nam..
Với tư cách là một trong những phương hướng cơ bản (PHCB) để nâng cao hiệu quả của hệ thống TPHS, theo quan điểm của chúng tôi việc hoàn thiện hệ thống pháp luật (HTPL) về đấu tranh chống tội phạm (ĐTrCTP) cần được phân tích theo hệ thống sáu (06) nhóm vấn đề mà tại các phần từ I đến IV dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét: I) Khái niệm HTPL về ĐTrCTP, thực trạng và các đặc điểm cơ bản của nó; II) Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự (PLHS); III) Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) và; IV) Hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án hình sự (THAHS)
I. Khái niệm HTPL về ĐTrCTP, thực trạng và các đặc điểm của nó
1. Khái niệm HTPL về ĐTrCTP là vấn đề đầu tiên mà chúng ta cần phải làm rõ trước khi chỉ ra các đặc điểm cơ bản và phân tích nội dung của việc hoàn thiện hệ thống đó. Từ trước đến nay khái niệm này chưa nhận được sự ghi nhận vềmặt pháp lý trong bất kỳ một văn bản pháp luật (VBPL) thực định nào. Vì vậy, khi bàn về nội hàm của khái niệm này trong khoa học pháp lý (KHPL), để đảm bảo tính khoa học và toàn diện chúng ta cần lưu ý rằng, HTPL về ĐTrCTP phải được hiểu trên hai bình diện rộng và hẹp dưới đây.
1.1. Trên bình diện rộng, thì nội hàm của khái niệm đang nghiên cứu không chỉ bao gồm các quy định của ba ngành luật về TPHS -PLHS, pháp luật TTHS và pháp luật THAHS, mà còn bao gồm cả một số quy định pháp luật khác liên quan đến tổ chức-hoạt động của hệ thống TPHS nữa (như: các quy định của pháp luật đề cập đến tổ chức-hoạt động về truy nã-điều tra hình sự).
1.2. Trên bình diện hẹp, thì nội hàm của khái niệm đang nghiên cứu chỉ bao gồm các quy định của ba ngành luật về TPHS đã nêu và do sự hạn chế bởi số trang của một tạp chí nên ở đây, chúng ta chỉ nghiên cứu HTPL về ĐTrCTP đúng theo nghĩa hẹp của vấn đề. Vì vậy, trong giai đoạn xây dựng NNPQ và cải cách tư pháp (CCTP) ở Việt Nam hiện nay có thể được hiểu khái niệm đang nghiên cứu như sau: Hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm là tổng thể các quy phạm pháp lý của ba ngành luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự (PLHS, pháp luật TTHS và pháp luật THAHS) điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội phát sinh: 1) giữa Nhà nước và người phạm tội, 2) trong hoạt động điều tra, tuy tố và xét xử các vụ án hình sự, trong quá trình thi hành các bản án và các quyết định về hình sự, cũng như 3) trong quá trình hợp tác quốc tế của nước ta với cộng đồng quốc tế nhằm đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng NNPQ và công cuộc CCTP, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của con người và của công dân ở Việt Nam, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại trong khu vực và trên toàn thế giới.
2. Khái niệm và các đặc điểm của thực trạng HTPL về ĐTrCTP ở Việt Nam hiện nay là những vấn đề mà từ trước đến nay chưa được đề cập trong các chuyên ngành KHPL về TPHS, vì vậy khái niệm thực trạng của HTPL về ĐTrCTP có thể được định nghĩa là tổng thể các quy phạm pháp lý thuộc lĩnh vực TPHS được nhà làm luật ghi nhận trong các văn bản PLHS, pháp luật TTHS và pháp luật THAHS (thực định) với tư cách là những căn cứ pháp lý để các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án áp dụng trong thực tiễn ĐTrCTP mà việc phân tích các quy phạm này cho thấy những ưu điểm, cũng như những nhược điểm - hạn chế nhất định trên các bình diện khác nhau. Từ định nghĩa khoa học (ĐNKH) này, đồng thời trên cơ sở phân tích các quy phạm hiện hành của ba ngành luật thuộc lĩnh vực TPHS của nước ta và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm đó cho phép chỉ ra một số đặc điểm cơ bản dưới đây của thực trạng HTPL về ĐTrCTP ở Việt Nam hiện nay.
2.1. Đặc điểm thứ nhất - bên cạnh những ưu điểm nhất định, hệ thống PLHS Việt Nam hiện hành (mà cụ thể là BLHS năm 1999 với Phần chung và Phần các tội phạm được chia thành 24 chương với tổng số 344 điều) còn tồn tại một loạt những nhược điểm cơ bản trên các bình diện khác nhau (lôgíc pháp lý, kỹ thuật lập pháp, tính hợp lý về mặt thực tiễn, hoặc tính chính xác về mặt khoa học) như:
1) Các Chương I và II của BLHS năm 1999 chính là đề cập đến những vấn đề liên quan và gần với nội dung của chính “Đạo luật hình sự” chứ không phải là của một "Điều khoản cơ bản" nào hết nên cần phải gộp chúng vào một chương với tên gọi chung thể hiện đúng bản chất pháp lý của cả hai chương này, đồng thời thiếu quy phạm về nguồn của PLHS.
2) Đoạn 2 Điều 1 “Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự” chưa đầy đủ và chính xác, nên cũng cần phải được sửa đổi và bổ sung, vì ngoài tội phạm và hình phạt ra, BLHS năm 1999 cũng còn quy định “các biện pháp tư pháp” và “các chế định pháp lý hình sự khác” nữa, mà trong các chế định pháp lý hình sự khác này bao gồm một loạt các chế định được quy định trong Phần chung và không phải là tội phạm (như: sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, v.v...).
3) Trách nhiệm hình sự (TNHS) mặc dù là một chế định trung tâm của luật hình sự nhưng rất tiếc là vẫn chưa được điều chỉnh trong một chương riêng biệt của Phần chung BLHS với các điều luật đề cập đến các định nghĩa pháp lý (ĐNPL) của một loạt khái niệm quan trọng như - TNHS, cơ sở của TNHS, những điều kiện của TNHS là gì (?) và, nội dung cơ bản của từng điều kiện của TNHS, cũng như khái niệm năng lực TNHS hạn chế là gì (?), v.v...
4) Thời gian phạm tội mặc dù cũng là một khái niệm pháp lý cơ bản và quan trọng của chế định về hiệu lực của đạo luật hình sự, nhưng tại Điều 7 vẫn còn thiếu định nghĩa pháp lý (ĐNPL) của khái niệm này.
5) Vấn đề hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự tại các khoản 2-3 Điều 7 quy định vẫn chưa gọn lắm (vì còn liệt kê rất dài một loạt tên gọi của các chế định nhân đạo của luật hình sự), mà thực ra có thể gộp chúng lại thành một thuật ngữ chung “các chế định pháp lý hình sự” có lợi (tại khoản 2) hoặc không có lợi (tại khoản 3) cho người phạm tội để đảm bảo được tính chính xác về mặt khoa học và chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp.
6) Chế định dẫn độ người phạm tội vẫn chưa được điều chỉnh về mặt lập pháp, khi mà trong xu thế hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay chúng ta cần phải ghi nhận nó để đảm bảo sự hợp tác hữu hiệu hơn nữa với các nước thành viên INTERPOL và ASEANAPOL trong việc đấu tranh chống trình trạng phạm tội quốc tế và tình trạng phạm tội có yếu tố nước ngoài.
7) Chế định về các nguyên tắc của luật hình sự mặc dù là một trong các chế định trung tâm và quan trọng nhất của luật hình sự nhưng vẫn chưa được điều chỉnh về mặt lập pháp với tính chất là một chế định độc lập.
8) Chế định phân loại tội phạm (các khoản 2-3 Điều 8) còn một nhược điểm nhỏ về mặt kỹ thuật lập pháp chưa khắc phục được của BLHS năm 1985 - các quy phạm của chế định phân loại tội phạm vẫn ghi nhận tại cùng một Điều 8 “Khái niệm tội phạm”, mà lẽ ra có thể quy định thành một điều luật riêng biệt khác (vì rõ ràng phân loại tội phạm là một chế định độc lập của luật hình sự, chứ không thể hòa lẫn trong khái niệm tội phạm).
9) Chế định đa (nhiều) tội phạm vẫn còn thiếu một loạt ĐNPL có ý nghĩarất quan trọng đối với thực tiễn áp dụng PLHS như: thế nào là “phạm tội nhiều lần” (?) hoặc “phạm nhiều tội” (?), trong khi “phạm tội nhiều lần” vẫn được BLHS năm 1999 quy định là tình tiết tăng nặng TNHS chung (điểm “g” khoản 1 Điều 48) và “phạm nhiều tội” - được nhắc đến khi quy định về quyết định hình phạt (Điều 50), mà lẽ ra nhà làm luật có thể ghi nhận được các ĐNPL của các khái niệm này để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan BVPL và Tòa án.
10) Chế định lỗi cũng vẫn còn một loạt các nhược điểm của BLHS năm 1985 chưa khắc phục được vì chưa phản ánh rõ hai nguyên tắc - TNHS trên cơ sở lỗi và phân hóa TNHS tối đa như:
a) Chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý của hai khái niệm rất cơ bản: “lỗi” là gì (?) và như thế nào là “người có lỗi trong tội phạm”(?);
b) Chưa điều chỉnh tại Phần chung BLHS một vấn đề quan trọng khi tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do vô ý -chưa khẳng định dứt khoát và rõ ràng rằng chỉ trong các trường hợp có các điều tương ứng tại Phần các tội phạm BLHS quy định riêng thì những hành vi này mới bị coi là tội phạm, vì thực ra khác với những hành vi được thực hiện do cố ý, tại Phần các tội phạm BLHS chỉ có một số (chứ không phải tất cả) những hành vi được thực hiện do vô ý bị tội phạm hóa mà hình thức lỗi được chỉ ra trực tiếp trong tên gọi của tội phạm;
c) Chưa ghi nhận rõ ràng và dứt khoát ĐNPL của khái niệm chung về tội cố ý - là hành vi nguy hiểm cho xã hội do luật hình sự quy định được thực hiện do “cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp” (rồi sau đó mới lần lượt đề cập đến định nghĩa pháp lý của khái niệm từng dạng cố ý này), cũng như ĐNPL của khái niệm chung về tội vô ý - là hành vi nguy hiểm cho xã hội do luật hình sự quy định được thực hiện do “quá tự tin (chủ quan) hoặc cẩu thả” (rồi sau đó mới lần lượt đề cập đến các ĐNPL của khái niệm từng dạng vô ý này);
d) Chưa có quy định nào tại Phần chung điều chỉnh vấn đề TNHS trong trường hợp lỗi phức tạp (hỗn hợp lỗi) - khi trong một cấu thành tội phạm có hai hình thức lỗi (tức là lỗi của chủ thể đối với việc thực hiện hành vi phạm tội là cố ý, nhưng đối với hậu quả nghiêm trọng xảy ra là vô ý);
đ) Tại Phần các tội phạm vẫn chưa bổ sung hình thức lỗi với tính chất là dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm tăng nặng mà lẽ ra có thể bổ sung được;
e) Khi điều chỉnh các quy phạm về lỗi cố ý vẫn chưa làm rõ về mặt thuật ngữ và bổ sung một số dấu hiệu (cả về mặt lý trí và ý chí) của hai dạng cố ý- trực tiếp và gián tiếp.
11) Chế định về các giai đoạn thực hiện tội phạm (các điều 17-18) vẫn chưa đạt lắm vì: a) còn thiếu ĐNPL của hai khái niệm rất quan trọng - “tội phạm hoàn thành” và “tội phạm chưa hoàn thành” là như thế nào?; b) không đưa ra nguyên tắc chung để giải quyết vấn đề TNHS trong hai trường hợp này.
12) Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm (Điều 19) vẫn còn nguyên những khiếm khuyết chưa khắc phục được của BLHS năm 1985 trước đây, vì mới chỉ đề cập đến vấn đề TNHS của người thực hành, mà chưa giải quyết vấn đề TNHS của ba loại người đồng phạm khác (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) khi họ tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm vì đã sử dụng thuật ngữ “việc phạm tội” - việc thực hiện tội phạm trong tên gọi của điều luật và nội dung mà nó quy định, mà lẽ ra nên sử dụng thuật ngữ “tội phạm” thì mới đảm bảo tính hợp lý về thực tiễn và sự chính xác về mặt khoa học.
13) Chế định đồng phạm (Điều 20) vẫn còn nguyên những khiếm khuyết chưa khắc phục được của BLHS năm 1985 trước đây, mà cụ thể là:
a) Mới chỉ đề cập đến hành vi của người thực hành, mà chưa đề cập đến của ba loại người đồng phạm khác (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) khi sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” trong định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm (khoản 1) và “thực hiện tội phạm” trong định nghĩa của khái niệm phạm tội có tổ chức (khoản 3), mà lẽ ra phải là các thuật ngữ “cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm” thì mới đảm bảo tính hợp lý về thực tiễn và sự chính xác về mặt khoa học;
b) Các ĐNPL của các khái niệm người thực hành, người tổ chức và người xúi giục vẫn chưa đầy đủ (các đoạn 2, 3 và 4 khoản 2), còn ĐNPL của khái niệm người giúp sức vẫn còn rất chung chung và trừu tượng (khoản 5 đoạn 3);
c) Vẫn chưa đảm bảo được nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa TNHS tối đa khi chưa giải quyết ở mức độ lập pháp một loạt các vấn đề như: chưa có các ĐNPL của hai khái niệm về các hình thức đồng phạm khác (ngoài hình thức phạm tội có tổ chức) và về tổ chức tội phạm;
d) Còn thiếu các quy phạm về sự thái quá của người thực hành và vấn đề TNHS của những người đồng phạm khác trong trường hợp này.
14) Các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc ta vẫn chưa được kế thừa hoàn toàn khi vẫn chưa phi hình sự hóa hành vi che giấu tội phạm cho nhau của những người ruột thịt và thân thích gần thực hiện, trong khi đó điều này đã được làm đối với hành vi không tố giác tội phạm, cũng như đã có trong Dự thảo BLHS sửa đổi lần thứ X (tháng 3/1989) và, vì vậy cần phải được giữ lại.
15) Các quy định về những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi, sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, tình trạng không có năng lực TNHS) vẫn nằm tại cùng một chương về tội phạm (mặc dù bản chất pháp lý của chúng và tội phạm hoàn toàn khác xa nhau), mà lẽ ra cần được quy định thành một chương riêng để loại trừ sự thiếu nhất quán về mặt lôgic pháp lý, tức là hình thức mâu thuẫn với nội dung - tên gọi của chương không đúng với các quy định của nó.
16) Các quy định về hình phạt, quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn còn có một số điểm hạn chế như sau:
a) Về phạt tiền. Nếu xét theo thứ tự từ nhẹ đến nặng của các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt của PLHS nước ta, thì phạt tiền đứng ở vị trí thứ hai - chỉ nặng hơn cảnh cáo, nhưng lại nhẹ hơn cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, trong khi đó đối với hai loại hình phạt sau thì BLHS có quy định việc trừ thời gian tạm giam vào thời gian chấp hành hai loại hình phạt này (mặc dù chúng nặng hơn phạt tiền), thế nhưng đối với phạt tiền thì lại không quy định việc trừ thời gian như vậy (nhất là khi trong thực tiễn xét xử cho thấy: có người phạm tội đã bị tạm giam và rồi cuối cùng hình phạt chính duy nhất được áp dụng chỉ là phạt tiền thì sao ?). Do vậy, để đảm bảo nguyên tắc công minh của PLHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam, cần phải quy định việc khấu trừ thời gian tạm giam (theo tỷ lệ bao nhiêu % là hợp lý thì tùy nhà làm luật quyết định) đối với cả hình phạt tiền nữa (nhất là khi nó được áp dụng với tính chất là hình phạt chính).
b) Bên cạnh dạng “phạm nhiều tội” (1), chế định đa (nhiều) tội phạm trong PLHS Việt Nam còn có ba dạng khác như “phạm tội nhiều lần” (2), “tái phạm” (3) và “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” (4), vì vậy để đảm bảo tính toàn diện thì cùng với việc ghi nhận các ĐNPL của khái niệm các dạng đa tội phạm, nhà làm luật có thể sửa lại tên gọi của Điều 50 BLHS năm 1999 là “Quyết định hình phạt trong các trường hợp nhiều tội phạm”.
c) Nguyên tắc nhân đạo của PLHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ cần được thể hiện rõ hơn, và do đó nên chăng cần quy định dứt khoát đại xá và đặc xá
với tính chất là hai chế định độc lập của Phần chung luật hình sự, đồng thời xếp chúng vào một Chương riêng biệt của BLHS năm 1999 với tên gọi là “Các biện pháp tha miễn” (mà trong đó sẽ bao gồm không những các biện pháp tha miễn khác như miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, v.v..., mà còn bao gồm cả chế định liên quan đến các biện pháp này nữa như chế định thời hiệu); v.v…
2.2. Đặc điểm thứ hai - bên cạnh những ưu điểm nhất định, hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành (mà cụ thể là Bộ luật TTHS năm 2003 với tám Phần được chia thành 37 chương với tổng số 346 điều) còn tồn tại một loạt những nhược điểm cơ bản trên các bình diện khác nhau (lôgíc pháp lý, kỹ thuật lập pháp, tính hợp lý về mặt thực tiễn, hoặc tính chính xác về mặt khoa học) như:
1) Thiếu các quy phạm về cụ thể về ba điều kiện cơ bản để đạt được các mục đích của hình phạt khi tuyên một bản án (tính công minh, tính có căn cứ của bản án và, tính đúng pháp luật);
2) Thiếu các quy phạm về những trường hợp tương ứng cụ thể mà trong đó Tòa án nhất thiết phải tuyên một trong hai loại bản án: a) Bản án tuyên có tội (kết tội) và; b) Bản án tuyên vô tội (tha bổng).
3) Thiếu các quy phạm ghi nhận một cách đầy đủ và cụ thể minh oan với
tư cách là một chế định-nguyên tắc chế riêng biệt của luật TTHS.
4) Kỹ thuật lập pháp trong việc ghi nhận chế định các nguyên tắc của luật TTHS chưa đạt; v.v…
2.3. Và cuối cùng, đặc điểm thứ ba - do chưa được pháp điển hóa dưới dạng một Bộ luật hoàn chỉnh nên các quy định của pháp luật THAHS hiện hành còn tồn tại nhiều nhược điểm cơ bản như:
1) Chưa thống nhất vì vẫn còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau từ Pháp lệnh năm 1993 của UBTV Quốc hội “Về thi hành án phạt tù”, Nghị định số 60/CP ngày 16/9/1993 của Chính phủ ban hành Quy chế “Về trại giam”, Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30/6/1993 của TANDTC và VKSNDTC hướng dẫn “Về việc thi hành một số quy định của pháp lệnh thi hành án phạt tù”, một loạt điều trong các chương VIII-XI của BLHS năm 1999, đến 17 điều trong Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” (các điều 255-271) Bộ luật TTHS năm 2003; v.v…
2) Thậm chí ngay trong Bộ luật THA (Dự thảo 10) mà Văn phòng Chính phủ đã đưa ra thảo luận trong tháng 3/2006 vẫn rất nhiều khiếm khuyết và đó là điều đương nhiên không thể tránh khỏi vì tư duy pháp lý của những người có thẩm quyền soạn thảo và trình Dự thảo 10 ấy còn rất hạn chế, nhất là khi họ lại có nhận thức-khoa chưa chính xác - không coi THAHS là một ngành luật độc lập, có đối tượng điều chỉnh, các phương pháp đều chỉnh riêng và điều này, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ khi trong Dự thảo 10 của Bộ luật THA mà trong đó những vấn đề liên quan đến THAHS (Phần thứ ba) chỉ bao gồm có sáu chương (XIVI-XXI) với 130 điều (các điều 159-294), trong khi đó lại có một loạt các điều liên quan đến việc tổ chức thi hành, khiếu nại và tố cáco trong THAHS lại nằm ngoài Phần thứ ba của Bộ luật (ví dụ: các điều 307-308, 313-319) nên tất yếu không thể nào ghi nhận hết được các qui phạm và các chế định riêng của pháp luật THAHS (!).
II. Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự
Từ đặc điểm thứ nhất của thực trạng HTPL về ĐTrCTP nêu trên, đồng thời phân tích các quy định của PLHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng chúng trong những năm qua ở nước ta cho phép khẳng định rằng, trong giai đoạn xây dựng NNPQ và CCTP ở nước ta hiện nay có thể xác định một số biện pháp đồng bộ chủ yếu dưới đây để hoàn thiện hệ thống PLHS quốc gia với tư cách là một bộ phận cấu thành của HTPL về ĐTrCTP (hay còn gọi là HTPL về TPHS).
1. Xuất phát từ sự nhận thức-khoa đúng đắn đã nêu và trên cơ sở các luận chứng khoa học khách quan, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục phải cố gắng đến mức tối đa để quy định rõ ràng trong PLHS thực định:
1.1. Các giới hạn của việc tội phạm hóa (coi loại hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức nào là tội phạm) và phi tội phạm hóa (loại trừ loại hành vi nguy hiểm cho xã hội nào ra khỏi danh mục các tội phạm).
1.2. Các căn cứ của việc hình sự hóa (tính chất phải bị xử lý về hình sự của loại hành vi nguy hiểm cho xã hội nào) và phi hình sự hóa (những điều kiện cụ thể để loại trừ việc trừng phạt về hình sự, chuyển sang áp dụng bằng các chế tài pháp lý của các ngành luật tương ứng khác ít nghiêm khắc hơn luật hình sự hoặc mở rộng phạm vi của các biện pháp tha miễn).
1.3. Nhiều hình thức thực hiện TNHS khác nhau với sự đang dạng các biện pháp cưỡng chế về hình sự (nhiều loại hình phạt khác nhau , nhiều biện pháp cưỡng chế về hình sự khác ngoài hình phạt), nhiều khả năng lựa chọn (tùy nghi) và xây dựng được các cơ chế tạo ra sự thuận tiện khi áp dụng các biện pháp đó trong thực tiễn.
2. Không ngừng hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định của hệ thống PLHS bằng các cơ chế dân chủ và công khai trong hoạt động lập pháp hình sự để tiếp tục đổi mới, sửa đổi và bổ sung vào BLHS Việt Nam năm 1999 hiện hành các quy phạm hoặc các chế định pháp lý tiến bộ và nhân đạo của nền văn minh nhân loại trên cơ sở lĩnh hội các nguyên tắc được thừa nhận chung của hoạt động tư pháp hình sự trong NNPQ.
3. Xác định nội dung chủ yếu của việc hoạch định chính sách PLHS là:
3.1. Cần hiểu việc hoạch định chính sách PLHS là hoạt động xác định những phương hướng cơ bản có tính chất chỉ đạo của nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp và áp dụng PLHS nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ thống PLHS, tăng cường việc bảo vệ các quyền và tự do của con người, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của nhà nước bằng PLHS, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
3.2. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn lập pháp và áp dụng PLHS quốc gia, đồng thời tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự và những thành tựu lý luận của khoa học luật hình sự các NNPQ trên thế giới phân tích tính quyết định xã hội của các quan hệ xã hội đang và sẽ hình thành trong điều kiện Việt Nam để lý giải và đưa ra những luận chứng khoa học khách quan, đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học và phù hợp với thực tiễn cho việc triển khai các định hướng chủ yếu của việc hoạch định chính sách PLHS của đất nước.
3.3. Phân tích khoa học các định hướng chủ yếu của việc hoạch định chính sách PLHS trên các bình diện sau:
1) Định hướng thứ nhất- về mặt lập pháp, cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chế định và các quy phạm trong BLHS năm 1999 hiện hành sao cho đảm bảo được tính nhất quán về mặt lôgic pháp lý của một loạt các quy phạm và các chế định pháp lý hình sự còn thiếu, chưa chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp; soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp để hỗ trợ trực tiếp (khi viện dẫn) và tăng cường hiệu quả cho việc áp dụng các chế định hoặc các quy phạm tương ứng của PLHS hiện hành (Ví dụ: Luật "Về đặc xá và đại xá").
2) Định hướng thứ hai- về mặt thực tiễn, cần tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động TPHS (nói chung) và thực tiễn áp dụng PLHS (nói riêng) để thấy rõ được hiệu quả và tính quyết định xã hội của từng chế định hoặc từng quy phạm tương ứng trong BLHS, cũng như những điểm hạn chế còn tồn tại trong PLHS thực định hiện hành nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống PLHS quốc gia và từ đó, xây dựng án lệ như chiến lược cải cách tư pháp (CCTP) đã xác định để đưa ra những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo cho việc áp dụng chính xác nó (PLHS) trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc ĐTrCTP.
3) Và định hướng thứ ba- về mặt lý luận, cần xuất phát việc tổng kết thực tiễn lập pháp và áp dụng PLHS của đất nước, cũng như tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự của và những thành tựu của khoa học luật hình sự các NNPQ trên thế giới để phân tích thực trạng của hệ thống PLHS quốc gia và tình hình tội phạm, đồng thời trên cơ sở đó đưa ra cho hoạt động lập pháp và hoạt động áp dụng PLHS của Việt am các kiến giải có căn cứ xác đáng, khả thi và đảm bảo sức thuyết phục.
4. Bằng việc phân tích khoa học dưới góc độ tiếp tục hoàn thiện PLHS hiện hành cố gắng đưa ra những luận chứng khách quan, có căn cứ và đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học, phù hợp với thực tiễn và nhất quán về mặt lôgic pháp lý cho các kiến giải lập pháp (KGLP) của các mộ hình lý luận (MHLL) đối với một loạt các quy phạm và các chế định còn thiếu, chưa chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp hoặc tồn tại một loạt các điểm hạn chế trong BLHS Việt Nam năm 1999 hiện hành nhằm hoàn thiện hơn nữa PLHS quốc gia, mà cụ thể là(1):
4.1. Các quy phạm về nguồn và nhiệm vụ của PLHS.
4.2. Chế định các nguyên tắc của luật hình sự (vì mặc dù chế định rất quan trọng này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các quy phạm của Phần chung và Phần các tội phạm BLHS nhưng trong lần pháp điển hóa thứ hai luật hình sự Việt Nam vừa qua nó vẫn chưa được chính thức ghi nhận trong BLHS Việt Nam năm 1999 hiện hành).
4.3. Chế định hiệu lực của đạo luật hình sự.
4.4. Chế định lỗi.
4.5. Chế định về các giai đoạn thực hiện tội phạm (vì trong BLHS Việt Nam
năm 1999 còn thiếu hai định nghĩa pháp lý của hai khái niệm quan trọng là “tội phạm hoàn thành” và “tội phạm chưa hoàn thành ”).
4.6. Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm (vì chế định này phải được quy định đối với cả tất cả những người đồng phạm, chứ không phải chỉ đối với riêng một loại người đồng phạm là người thực hành như trong BLHS Việt Nam năm 1999 khi mà tại Điều 19 nhà làm luật chỉ đề cập đến hành vi chấm dứt “việc phạm tội” - hành vi thực hiện tội phạm).
4.7. Chế định đồng phạm (vì chế định này trong BLHS Việt Nam năm 1999
___________________
(1)Chẳng hạn, thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn phát triển hiện nay của xã hội Việt Nam một loạt các chế định và các quy phạm của PLHS hiện hành của nước ta cần phải được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện. Xem cụ thể hơn: MHLL của Phần chung BLHS Việt Nam tương lai bao gồm các KGLP liên quan đến 124 điều luật. Trong Sách chuyên khảo Sau đại học: Lê Văn Cảm. Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.915-970. còn nhiều điểm hạn chế - ĐNPL của khái niệm đồng phạm “cùng thực hiện một phạm” tại khoản 1 Điều 20 mới chỉ đề cập đến một loại người đồng phạm là người thực hành, mà lẽ ra phải là “cùng phạm tội” thì mới bao hàm được sự đồng phạm của tất cả các loại người đồng phạm khác; còn thiếu các quy phạm quan trọng đề cập đến ĐNPL của các khái niệm hai hình thức đồng phạm khác (đơn giản và phức tạp), tổ chức tội phạm và việc điều chỉnh vấn đề TNHS của các thành viên cùng một tổ chức.
4.8. Chế định nhiều (đa) tội phạm (vì chế định này mới đề cập đến dạng tái phạm, trong khi đó vẫn còn thiếu các quy phạm điều chỉnh đầy đủ ba dạng khác của nó - phạm tội nhiều lần (1), phạm nhiều tội (2) và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (3), - khi ba dạng này hoàn toàn chưa được chính thức ghi nhận trong BLHS năm 1999).
4.9. Chế định các trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi.
4.10. Chế định TNHS.
4.11. Một loạt các biện pháp tha miễn (BPTM); v.v...
III. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự
Từ đặc điểm thứ hai của thực trạng HTPL về ĐTrCTP nêu trên, đồng thời phân tích các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng chúng trong những năm qua ở nước ta cho phép khẳng định rằng, tron giai đoạn xây dựng NNPQ và CCTP ở nước ta hiện nay có thể xác định một số biện pháp đồng bộ chủ yếu dưới đây để hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS quốc gia với tư cách là một bộ phận cấu thành của HTPL về ĐTrCTP.
1. Không ngừng hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật TTHS bằng các cơ chế dân chủ và công khai trong hoạt động lập pháp TTHS để tiếp tục đổi mới, sửa đổi và bổ sung vào pháp luật TTHS thực định của quốc gia các quy phạm hoặc các chế định pháp lý tiến bộ và nhân đạo được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại trên cơ sở lĩnh hội các nguyên tắc của hoạt động tư pháp hình sự trong NNPQ.
2. Xác định nội dung chủ yếu của việc hoạch định chính sách pháp luật TTHS là:
2.1. Cần hiểu việc hoạch định chính sách pháp luật TTHS là hoạt động xác định những PHCB có tính chất chỉ đạo của nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp và áp dụng pháp luật TTHS nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật TTHS,
tăng cường việc bảo vệ các quyền và tự do của con người, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của nhà nước bằng pháp luật TTHS, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
2.2. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật TTHS quốc gia, đồng thời tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự và những thành tựu lý luận của khoa học luật TTHS các NNPQ trên thế giới phân tích tính quyết định xã hội của các quan hệ xã hội đang và sẽ hình thành trong điều kiện Việt Nam để lý giải và đưa ra những luận chứng khoa học khách quan, đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học và phù hợp với thực tiễn cho việc triển khai các định hướng chủ yếu của việc hoạch định chính sách pháp luật TTHS của đất nước.
2.3. Phân tích khoa học các định hướng chủ yếu của việc hoạch định chính sách pháp luật TTHS trên các bình diện sau:
1) Định hướng thứ nhất – về mặt lập pháp, cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chế định và các quy phạm trong Bộ luật TTHS năm 2003 hiện hành sao cho đảm bảo được tính nhất quán về mặt lôgic pháp lý của một loạt các quy phạm và các chế định pháp lý TTHS còn thiếu, chưa chặt chẽ về mặt
kỹ thuật lập pháp; soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp để hỗ trợ trực tiếp (khi viện dẫn) và tăng cường hiệu quả cho việc áp dụng các chế định hoặc các quy phạm tương ứng của pháp luật TTHS hiện hành (Ví dụ: Luật "Về các biện nghiệp vụ đảm bảo cho việc truy nã và cho hoạt động điều tra hình sự").
2) Định hướng thứ hai – về mặt thực tiễn, cần tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động tư pháp hình sự (nói chung) và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS (nói riêng) để thấy rõ được hiệu quả và tính quyết định xã hội của từng chế định hoặc từng quy phạm tương ứng trong Bộ luật TTHS, cũng như những điểm hạn chế còn tồn tại trong pháp luật TTHS thực định hiện hành nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật TTHS quốc gia và từ đó, xây dựng án lệ như chiến lược CCTP đã xác định để đưa
ra những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo cho việc áp dụng chính xác nó (pháp luật TTHS) trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
3) Và định hướng thứ ba – về mặt lý luận, cần xuất phát việc tổng kết thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật TTHS của đất nước, cũng như tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự của và những thành tựu của khoa học luật TTHS các NNPQ trên thế giới để phân tích thực trạng của hệ thống pháp luật TTHS quốc gia và tình hình tội phạm, đồng thời trên cơ sở đó đưa ra cho hoạt động lập pháp và hoạt động áp
dụng pháp luật TTHS của Việt Nam các KGLP (hoặc các KGKH) có căn cứ xác đáng, khả thi và đảm bảo sức thuyết phục. Chẳng hạn, thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn phát triển hiện nay của xã hội Việt Nam một loạt các quy định của pháp luật
TTHS hiện hành của nước ta cần phải được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.
3. Nghiên cứu để bổ sung vào Bộ luật TTHS năm 2003 hiện hành của nước ta các quy phạm cụ thể về ba điều kiện cơ bản để đạt được các mục đích của hình phạt khi tuyên một bản án là: 1) Tính công minh của bản án – khi hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác được tuyên trong bản án phù hợp với mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và của nhân thân của người có tội, còn người không có tội thì phải được tuyên là vô tội và nhất thiết phải được minh oan; 2) Tính có căn cứ của bản án – khi các tình tiết thực tế của vụ án hình sự được xác định trong bản án đó hoàn toàn đầy đủ và phù hợp chính xác với tất cả sự thật khách quan trong thực tế và; 3) Tính đúng pháp luật của bản án – khi bản án đó được tuyên với sự tuân thủ nghiêm chỉnh tất cả các yêu cầu (đòi hỏi) của luật và chỉ dựa trên các cơ sở pháp lý được quy định trong luật.
4. Ngoài ra, cũng phải bổ sung trong Bộ luật TTHS năm 2003 cả các trường hợp tương ứng cụ thể mà trong đó Tòa án nhất thiết phải tuyên một trong hai loại bản án: 1) Bản án tuyên có tội (kết tội) và; 2) Bản án tuyên vô tội (tha bổng).
5. Tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa chế định minh oan trong pháp luật TTHS Việt Nam với các quy phạm cụ thể đề cập đến:
5.1. Một trong các nhiệm vụ của pháp luật TTHS Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ – minh oan một cách nhanh chóng và hoàn toàn cho người vô tội;
5.2. Khẳng định về mặt lập pháp minh oan là một trong các nguyên tắc của luật TTHS với nội dung:
1) Đó là việc Nhà nước bồi thường hoàn toàn hoặc một phần thiệt hại về vật chất, khắc phục các hậu quả của thiệt hại về tinh thần và phục hồi lại các quyền bị tổn thất cho công dân đã bị oan do cơ quan (người) tiến hành tố tụng tương ứng có thẩm quyền gây ra cho họ trong quá trình truy cứu TNHS.
2) Công dân đã bị oan có quyền được minh oan và cơ quan (người) tiến hành tố tụng tương ứng có thẩm quyền đã làm oan họ phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định của pháp luật để kịp thời minh oan cho công dân đã bị oan.
3) Trình tự, thủ tục về bồi thường thiệt hại về vật chất, khắc phục các hậu quả của thiệt hại về tinh thần và phục hồi lại các quyền bị tổn thất cho công dân
đã bị oan do cơ quan (người) tiến hành tố tụng tương ứng có thẩm quyền gây ra, cũng nh việc quyết định các diện công dân được minh oan và công nhận quyền được minh oan của từng người phải do Bộ luật TTHS quy định.
4) Bốn căn cứ để cho người bị tình nghi là phạm tội hoặc bị cáo không bị coi là người có tội và phải được minh oan: a) Một – không có sự kiện phạm tội mà vụ án hình sự vẫn được khởi tố, điều tra hoặc xét xử; b) Hai – hành vi mà họ đã thực hiện không phải là tội phạm; c) Ba – họ không có liên quan gì đến việc thực hiện tội phạm và; d) Bốn – Kiểm sát (Công tố) viên rút cáo trạng buộc tội bị cáo tại phiên tòa.
5) Các căn cứ và những hậu quả của sự minh oan, cũng như trình tự bồi thường thiệt hại và phục hồi các quyền lợi cho người được minh oan.
6. Tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa chế định về các nguyên tắc của luật TTHS trong Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003(2). Bởi lẽ:
6.1. Trong số 346 điều luật của Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 mới được thông qua, thì nội dung của toàn bộ các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS Việt Nam được nhà làm luật đề cập trong 30 điều khác nhau tại Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” (các điều 3-32). Như vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp rõ ràng là chưa đạt lắm khi mà chế định về các nguyên tắc của luật TTHS được ghi nhận về mặt lập pháp không gọn mà là dàn trải trong hơn 30 điều của Bộ luật ấy.
6.2. Mặt khác, trong số các nguyên tắc cơ bản theo Bộ luật TTHS năm 2003 cũng vẫn còn có một số nguyên tắc mà nếu như xét về bản chất pháp lý, thì chúng chính là những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) và đã được ghi nhận trong các luật tương ứng về tổ chức các cơ quan này – TAND hoặc VKS, – chứ không phải là đặc trưng riêng chỉ của luật TTHS (Ví dụ: đó là một loạt nguyên tắc được ghi nhận tại các điều 15-22, 24, 26-27). Vì vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp có thể không cần thiết phải quy định một số nguyên tắc đó trong Bộ luật TTHS (nhưng vì nhà làm luật đã quy định chúng trong Bộ luật TTHS năm 2003 nên cũng được chúng tôi đề cập khi nghiên cứu ở đây).
6.3. Riêng điều luật đề cập đến việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 28 Bộ luật TTHS năm 2003), thì theo quan điểm của chúng tôi nó không phải và không thể được coi là một nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, mà chẳng qua chỉ là một quy phạm pháp luật dân sự và cần được ghi nhận bổ sung vào Chương XII “Khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự” thì mới đảm bảo sự chính xác hơn về mặt khoa học và đạt hơn về mặt kỹ thuật lập pháp.
6.4. Về mặt lập pháp, có thể thống nhất và quy định gộp lại các điều trong Chương II Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 thành 15 nguyên tắc cơ bản; còn riêng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS, thì cần lu ý rằng, mặc dù nội dung của nguyên tắc này chưa được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận riêng biệt tại Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” của trong Bộ luật TTHS năm 2003(2). Nhưng ở một mức độ nhất định, có thể nhận thấy tinh thần của nguyên tắc này phần nào đó cũng đã được đề cập tại một số điều Bộ luật TTHS năm 2003 (như: Chương XX “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa”, Chương XXI “Tranh luận tại phiên tòa”, v.v...) nên chúng ta cần phải ghi nhận rõ ràng và dứt khoát về mặt lập pháp nguyên tắc tranh tụng của các bên trong TTHS để qua đó có thể nhận thấy rõ bản chất tiến bộ, dân chủ và khoa học của nó, đồng thời mới thể hiện được đúng tinh thần Nghị quyết 08/TW của Bộ Chính trị về CCTP.
5) Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, các quy phạm của hai chương đầu tiên trong Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 chính là đề cập đến những vấn đề về đạo luật TTHS mà trong đó vẫn còn thiếu hai điều luật rất quan trọng – một điều về nguồn của luật TTHS Việt Nam và một điều về hệ thống các nguyên tắc (chỉ liệt kê các tên gọi từng nguyên tắc) của luật TTHS Việt Nam (trước các điều đã được quy định đề cập đến nội dung của từng nguyên tắc). Do đó, dưới góc độ hoàn thiện pháp luật TTHS chúng ta cần phải gộp hai Chương I và Chương II Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 thành một Chương với tên gọi thống nhất, chính xác và thể hiện đúng bản chất pháp lý của các quy định trong Chương này của Bộ luật TTHS – Chương I “Về đạo luật tố tụng hình sự” bao gồm tất cả 20 điều (3 điều đề cập đến nguồn, nhiệm vụ
và hiệu lực, còn 17 điều đề cập đến chế định các nguyên tắc của pháp luật TTHS) (2).
IV. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án hình sự
Từ đặc điểm thứ ba của thực trạng HTPL về ĐTrCTP nêu trên, đồng thời phân tích các quy định của pháp luật THAHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng chúng trong những năm qua ở nước ta cho phép khẳng định rằng, tron giai đoạn xây dựng NNPQ và CCTP ở nước ta hiện nay có thể xác định một số biện pháp đồng bộ chủ yếu dưới đây để hoàn thiện hệ thống pháp luật THAHS quốc gia với tư cách là một bộ phận cấu thành của HTPL về ĐTrCTP.
Tác giả: TSKH. PGS. Lê Cảm - Trưởng Khoa Luật – ĐH Quốc Gia Hà Nội
Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 4/2006
___________________
(2)Xem cụ thể hơn: MHLL của Phần chung Bộ luật TTHS Việt Nam tương lai bao gồm các KGLP liên quan nguồn của pháp luật TTHS và chế định các nguyên tắc của nó với 20 điều luật. – Trong Sách chuyên khảo Sau đại học: Lê Văn Cảm. Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.107-127.
1. Cần xác định rõ bản chất của việc hoạch định chính sách pháp luật THAHS – trên cơ sở tổng kết thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật THAHS quốc gia, đồng thời tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự và những thành tựu lý luận của các NNPQ trên thế giới phân tích tính quyết định xã hội của các quan hệ xã hội đang và sẽ hình thành trong giai đoạn xây dựng NNPQ để lý giải và đưa ra những luận chứng khoa học khách quan, đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học và phù hợp với thực tiễn cho việc triển khai các định hướng chủ yếu của việc hoạch định chính sách pháp luật THAHS của đất nước.
2. Phân tích khoa học các định hướng chủ yếu của việc hoạch định chính sách pháp luật THAHS trên các bình diện sau:
2.1. Định hướng thứ nhất – về mặt lập pháp, cần tiếp tục nghiên cứu để soạn thảo và ban hành Bộ luật THAHS (mà hiện nay Việt Nam chưa có) sao cho đảm bảo được tính nhất quán về mặt lôgic pháp lý của các quy phạm và các chế định pháp lý THAHS; soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp để hỗ trợ trực tiếp (khi viện dẫn) và tăng cường hiệu quả cho việc áp dụng các chế định hoặc các quy phạm tương ứng của pháp luật THAHS.
2.2. Định hướng thứ hai – về mặt thực tiễn, cần tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động tư pháp hình sự (nói chung) và thực tiễn áp dụng pháp luật THAHS (nói riêng) để thấy rõ được hiệu quả và tính quyết định xã hội của các quy định tương ứng, cũng như những điểm hạn chế còn tồn tại trong hệ thống pháp luật THAHS nhằm xây dựng cho được một Bộ luật THAHS khả thi (trong tương lai) và từ đó, xây dựng án lệ như chiến lược CCTP đã xác định để đưa ra những giải thích thống nhất có
tính chất chỉ đạo cho việc áp dụng chính xác các quy định của pháp luật THAHS trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
2.3. Và định hướng thứ ba – về mặt lý luận, cần xuất phát việc tổng kết thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật THAHS của đất nước, cũng như tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự của và những thành tựu của khoa học luật THAHS các NNPQ trên thế giới để phân tích thực trạng của hệ thống pháp luật THAHS quốc gia và tình hình tội phạm, đồng thời trên cơ sở đó đưa ra cho hoạt động lập pháp và hoạt động áp dụng THAHS của Việt Nam các KGLP hoặc các KGKH có căn cứ xác đáng, khả thi và đảm bảo sức thuyết phục.
3. Trên cơ sở các luận chứng khoa học khách quan, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục để đưa ra MHLL của các KGLP về các quy phạm và các chế định của
luật THAHS, làm cho cho Bộ luật THAHS Việt Nam (sẽ được ban hành trong tương lai) thực sự là Bộ luật THAHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ với sự điều chỉnh đến mức tối đa các quy phạm, các chế định và các vấn đề cơ bản, các chuẩn mực tối thiểu và cần thiết thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ của nhà nước các quyền của những người bị kết án. Chẳng hạn như:
3.1. Địa vị pháp lý của các phạm nhân bị kết án các loại hình phạt khác nhau (không tước tự do, tước tự do, tử hình).
3.2. Chế định kiểm tra và kiểm sát đối với các cơ quan THAHS (như: sự kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước, sự kiểm tra của Tòa án, sự kiểm tra của cơ quan THAHS cấp trên trong quan hệ với cấp dưới và sự kiểm sát của VKS).
3.4. Giáo dục và đào tạo nghề nghiệp cho phạm nhân.
3.5. Giúp đỡ các phạm nhân đã được giảm thời hạn, miễn và hoãn chấp hành hình phạt và việc kiểm tra đối với họ; v.v...
4. Phải nghiên cứu để soạn thảo sao cho Bộ luật THAHS Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ có được sự ghi nhận về mặt lập pháp với tính chất là một chế định riêng biệt 10 nguyên tắc của luật THAHS là: 1) pháp chế; 2) công minh; 3) nhân đạo; 4) dân chủ; 5) bình đẳng của những người bị kết án trước luật THAHS; 6) không tránh khỏi việc chấp hành án hình sự; 7) cá thể hóa và phân hóa tối đa việc chấp hành án hình sự; 8) tiết kiệm tối đa các biện pháp trấn áp về hình sự trong THAHS; 9) kết hợp sự thuyết phục và giáo dục với sự cưỡng chế và cải tạo-lao động; 10) đảm bảo sự tôn trọng các quyền của con người theo các chuẩn mực quốc tế về đối xử với các phạm nhân.
5. Từ những suy ngẫm đã nêu trên đây, theo ý kiến của chúng tôi, MHLL của Bộ luật THAHS Việt Nam tương lai nên chăng cần được xây dựng theo cấu trúc gồm hai phần – Phần chung và Phần riêng (như trong BLHS) – hai phần này lại được chia thành mười phần nữa với tổng số 21 chương theo hệ thống như sau:
5.1. Trong Phần chung Bộ luật THAHS Việt Nam tương lai sẽ gồm có chỉ một Phần – Phần thứ nhất “Các quy định chung của pháp luật THAHS Việt Nam” với ba chương (I-III) mà cụ thể là: 1) Chương I “Về đạo luật thi hành án hình sự”; 2) Chương II “Địa vị pháp lý của những người bị kết án” và Chương III “Các cơ quan, các tổ chức có nhiệm vụ thi hành hình phạt và việc kiểm tra, kiểm sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức này”.
5.2. Trong Phần riêng Bộ luật THAHS Việt Nam tương lai sẽ gồm có tám phần với tổng cộng tất cả là 14 chương (IV-XVII), mà cụ thể là:
1) Phần thứ hai và đồng thời là một Chương IV “Thi hành các biện pháp tư pháp”.
2) Phần thứ ba “Thi hành các hình phạt bổ sung và các hình phạt chính không tước tự do” với năm chương (V-IX) – Chương V “Thi hành các hình phạt quản chế, cấm cư trú và tịch thu tài sản”, Chương VI “Thi hành hình phạt cảnh cáo”, Chương VII “Thi hành hình phạt tiền”, Chương VIII “Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ” và Chương IX “Thi hành hình phạt trục xuất”;
3) Phần thứ tư “Thi hành các hình phạt tù” với bốn chương (X-XIII) – Chương X “Thi hành hình phạt tù có thời hạn”, Chương XI “Phân loại chế độ trong các trại cải tạo của những người bị kết án tù có thời hạn và các biện pháp đảm bảo việc chấp hành hình phạt (CHHP) này”, Chương XII “Các quy định về việc dạy văn hóa và giáo dục nghề nghiệp cho những người bị kết án tù có thời hạn” và Chương XIII “Thi hành hình phạt tù chung thân”.
4) Phần thứ năm và đồng thời là một Chương XIV “Thi hành hình phạt tử hình”.
5) Phần thứ sáu “Thi hành biện pháp miễn CHHP và các biện pháp về CHHP” với ba chương (XV-XVII) – Chương XV “Thi hành biện pháp miễn CHHP”, Chương XVI “Thi hành các biện pháp về CHHP” và Chương XVII “Giúp đỡ những người bị kết án đã được miễn CHHP và thực hiện việc kiểm tra đối với họ”;
6) Phần thứ bảy và đồng thời là một Chương XVIII “Các đặc điểm THAHS đối với người bị kết án chưa thành niên”.
7) Phần thứ tám với ba chương – Chương XIX “Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THAHS”.
8) Phần thứ chín và đồng thời là một Chương XX “Thi hành các bản án hình sự của nước ngoài tại Việt Nam”.
9) Và cuối cùng, Phần thứ mười và đồng thời là một Chương XXI “Hợp tác quốc tế trong THAHS”.