Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động TTHS
15:2' 21/8/2009

Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của các quan chức thi hành pháp luật. Theo quy định của "Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 17/12/1979, thuật ngữ "quan chức thi hành pháp luật"gồm tất cả những viên chức pháp luật được bổ nhiệm hay bầu ra, thực hiện các thẩm quyền của cảnh sát, đặc biệt các thẩm quyền bắt hay giam giữ[1]. Theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt nam, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Toà án; và người tiến hành tố tụng bao gồm: Điều tra viên; Kiểm sát viên; Chánh án, Thẩm phán; Hội thẩm; Thư ký phiên toà.

 



Mục đích hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong lĩnh vực hình sự là nhằm ngăn ngừa, phát hiện, và xử lý hành vi phạm tội, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện kịp thời, không để lọt tội phạm và không xử lý oan người vô tội. Tính chất hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này là hoạt động nhân danh nhà nước, và mang quyền lực nhà nước. Trong khi đó, quyền con người trong tố tụng hình sự, hiểu theo nghĩa trong phạm vi bài này, là quyền pháp lý của cá nhân, công dân hay nói chính xác hơn là quyền của bị can, bị cáo, do đang ở vào tình thế bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc đang bị tình nghi phạm tội, nên thông qua pháp luật, nhà nước trao cho họ những quyền pháp lý nhất định, những quyền pháp lý, thường được quy định trong Hiến pháp và luật để giúp họ có công cụ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tránh các nguy cơ xâm phạm không đúng pháp luật từ phía các cơ quan hoặc cá nhân đang thực thi pháp luật.

Vì tính chất hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước, nên trong quan hệ của họ với bị can, bị cáo thì đây là quan hệ bất bình đẳng. Vì vậy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm bất hợp pháp là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.

Pháp luật quốc tế về quyền con người có những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình sự được áp dụng trong phạm vi toàn cầu, không kể hệ thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người trong tố tụng hình sự được quy định trong nhiều văn kiện, đáng chú ý nhất là Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985 và một loạt các chuẩn mực tối thiểu khác như về vai trò của luật sư, các quan chức thực thi pháp luật, cơ quan công tố; về tính độc lập của cơ quan tư pháp.vv.  

Các quy định trong các văn kiện trên tạo thành hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quy tắc ứng xử của cơ quan và nhân viên thực thi pháp luật cũng như đảm bảo cho bị can, bị cáo có các quyền pháp lý nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giảm thiểu các nguy cơ xâm hại bất hợp pháp từ các cơ quan thực thi pháp luật.

Các chuẩn mực pháp lý tối thiểu đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế đều dựa trên các nguyên tắc có tính chất nền tảng, xuyên suốt quá trình tố tụng như: nguyên tắc suy đoán vô tội; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc bình đẳng; không bị tra tấn, nhục hình; nguyên tắc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm (phẩm giá vốn có của con người)vvv.  

- Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người trước giai đoạn xét xử:

Ở giai đoạn trước khi xét xử, những người đang bị giam giữ chờ xét xử (bị can) là những người đang bị tình nghi có hành vi phạm tội vì thế cơ quan có thẩm quyền áp dụng những biện pháp nghiệp vụ để chứng minh hành vi phạm tội, và vì vậy, tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị áp dụng những biện pháp ngăn chặn nhất định. Tuy nhiên ở giai đoạn này, dù có đủ chứng cứ để chứng minh họ phạm tội hay chưa, thì bị họ vẫn là người vô tội.

Theo các quy chuẩn quốc tế ở giai đoạn trước khi xét xử, người bị giam giữ chờ xét xử có các quyền pháp lý sau đây:

Trước hết đó là: Quyền được coi là vô tội và phải được đối xử như là người vô tội. Đây là quyền pháp lý rất quan trọng, xuyên suốt quá trình tố tụng từ khi khi khởi tố đến khi xét xử và bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Nhận thức đầy đủ quyền này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động điều tra, và đặc biệt quy định và áp dụng các hình thức đối xử thích hợp với người bị giam giữ chờ xét xử. Vì thế Nguyên tắc 8, Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9 tháng 12 năm 1988 theo Nghị quyết số 43/173 quy định: “Những người đang bị giam phải được đối xử đúng với địa vị chưa bị kết án của họ. Do vậy bất cứ khi nào có thể, họ phải được tách riêng khỏi những người đang bị tù[2]”.

Việc quyết định có giam giữ hay không giam giữ ở giai đoạn này, các quy định quốc tế đều xác định tránh áp dụng biện pháp giam giữ. Và nếu có áp dụng việc giam giữ trước khi xét xử phải được sử dụng như là biện pháp cuối cùng trong tố tụng hình sự[3]. Và theo Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân quy định những tù nhân chưa xét xử phải được hưởng chế độ đặc biệt mà những yêu cầu căn bản của nó được thể hiện trong các nguyên tắc sau đây[4]:

- Những tù nhân bị bắt giữ hay đang chờ xét xử phải được giam giữ riêng với tù nhân đã tuyên án.

- Những tù nhân trẻ tuổi chưa xét xử phải được giam giữ riêng với những người lớn tuổi và về nguyên tắc phải được giam giữ trong những nhà tù riêng.

- Những tù nhân chưa xét xử phải ngủ một mình trong những buồng riêng, có chú ý đến phong tục địa phương khác nhau.

- Và trong chừng mực có thể, nếu muốn, có được các thức ăn từ bên ngoài chi bằng tiền của họ, hoặc nhờ ban quản lý nhà tù hoặc qua gia đình hay bạn bè của họ. Nếu không thì ban quản lý nhà tù phải cung cấp thức ăn cho họ.

- Tù nhân chưa xét xử phải được phép mặc quần áo của mình nếu nó sạch và phù hợp; nếu tù nhân đó mặc quần áo tù, thì nó phải khác với quần áo cấp cho những tù nhân đã tuyên án.

- Tù nhân chưa xét xử phải luôn được tạo cơ hội việc làm, nhưng không phải bị yêu cầu làm việc. Nếu tù nhân đó lựa chọn làm việc thì người đó phải được trả công.

- Tù nhân chưa xét xử được phép kiếm mua những thứ như sách báo, tài liệu viết và những phương tiện nghề nghiệp khác phù hợp với lợi ích của việc quản lý tư pháp và an ninh, với trật tự của nhà tù, bằng tiền của tù nhân đó hay của một bên thứ ba.

- Tù nhân chưa xét xử được phép cho bác sĩ hay nha sĩ riêng của tù nhân đó khám và điều trị nếu có cơ sở đề nghị chính đáng của người đó và nếu người đó có khả năng chi trả bất kỳ những khoản chi phí nào phát sinh.

- Tù nhân chưa xét xử được phép thông báo ngay cho gia đình tù nhân đó về việc bắt giữ và phải có điều kiện hợp lý để giao tiếp với gia đình, bạn bè người đó, được tiếp những cuộc tới thăm của họ và chỉ chịu sự hạn chế, giám sát nếu cần thiết vì lợi ích của sự quản lý tư pháp và an ninh, của trật tự tốt của nhà tù.

- Tù nhân chưa xét xử được quyền có luật sư bào chữa và được thường xuyên tiếp xúc với luật sư của mình; được phép tiếp đón các luật sư của mình. Cảnh sát và các cán bộ nhân viên nhà tù có thể quan sát, chứ không được nghe những trao đổi giữa tù nhân đó với luật sự.

 

- Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người tại giai đoạn xét xử:

Tại giai đoạn xét xử, các quy định quốc tế về quyền con người trong quản lý tư pháp đề cao tính độc lập của toà án. Nguyên tắc độc lập xét xử của của toà án cho phép và yêu cầu toà án bảo đảm các thủ tục xét xử đều phải được tiến hành một cách đúng đắn và tôn trọng quyền con người trong hoạt động xét xử.

Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước toà án; có quyền được xét xử công bằng và công khai do một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về bất kỳ lời buộc tội hình sự nào, hoặc quyền và nghĩa vụ của người đó trong một vụ kiện trước pháp luật[5].

Ở giai đoạn này, người bị đưa ra xét xử trước toà án vẫn có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của họ được chứng minh theo pháp luật. Việc quyết định về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được có một cách hoàn toàn bình đẳng – những bảo đảm pháp lý tối thiểu sau đây:

- Được thông báo không chậm chễ và chi tiết, bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu, bản chất và lý do buộc tội mình; được thông báo về tội danh, tức được biết mình bị xét xử về tội gì.

- Quyền được có mặt khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về pháp lý do mình lựa chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về mặt pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí người đó một sự giúp đỡ về mặt pháp lý mà không phải trả tiền nếu người đó không có đủ điều kiện trả.

- Được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình và được mời người làm chứng đại diện cho mình tới phiên toà và thẩm vấn tại toà với những điều kiện giống như đối với những người làm chứng buộc tội mình.

- Được giúp đỡ về phiên dịch không phải trả tiền nếu người đó không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà.

- Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại chính mình hoặc buộc tự thú là mình có tội.

- Xét xử người chưa thành niên phải theo thủ tục đặc biệt có tính tới độ tuổi của các em.

- Khi bị kết án là phạm tội, có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo pháp luật.

- Được quyền bồi thường thiệt hại nếu có sự nhầm lẫn tư pháp, trừ trường hợp được chứng minh rằng việc không kịp thời làm sáng tỏ sự thật chưa biết một phần hoặc toàn bộ vụ án do chính bản thân người bị kết án gây ra.

- Không bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một hành vi phạm tội mà một bản án đã tuyên đã có hiệu lực pháp luật, hoặc về một tội phạm mà người đó được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và tố tụng của mỗi nước.

- Chuẩn mực pháp lý bảo đảm quyền con người sau khi xét xử:

Sau khi xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật người phạm tội phải chấp hành bản án do toà án tuyên. Ở giai đoạn này, các văn kiện pháp lý về bảo đảm quyền con người trong quản lý tư pháp đề cao vai trò, trách nhiệm của nhà tù, cán bộ trại giam. Theo đó, việc giam tù và các biện pháp khác đưa đến tách một người phạm tội ra khỏi thế giới bên ngoài là một nỗi khổ vì nó tước bỏ quyền tự do của người đó. Vì vậy, nguyên tắc áp dụng cho các loại tù nhân chịu án, theo Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu đối xử với tù nhân quy định:

- Hệ thống nhà tù, trừ trường hợp lấy đi chính đáng hay để duy trì kỷ luật, phải không được làm trầm trọng thêm nỗi đau vốn có và mục đích và lý do kết án tù hay bất kỳ một biện pháp tương tự nào khác tước bỏ tự do chính là để bảo vệ xã hội chống lại tội ác.

- Mục đích và lý do kết án tù chỉ có thể đạt được nếu thời gian ngồi tù, trong khả năng lớn nhất, đảm bảo được rằng khi người phạm tội trở về với xã hội thì người đó không chỉ sẵn sàng mà còn có khả năng sống một cuộc sống tuân theo pháp luật và tự lực.

Để đạt được mục đích này, nhà tù phải sử dụng tất cả các sức mạnh cứu chữa, giáo dục đạo đức, tinh thần và những sức mạnh khác cùng các hình thức giúp đỡ thích hợp hiện có, đồng thời cố gắng áp dụng chúng đối với yêu cầu đối xử với từng cá nhân tù nhân.

- Nhà tù phải tìm cách giảm đến mức thấp nhất những khác biệt giữa cuộc sống trong tù với cuộc sống tự do vốn có, tôn trọng nhân phẩm của họ với tư cách là con người.

- Việc đối xử với tù nhân không phải là loại trừ họ ra khỏi cộng đồng, mà tạo điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm cho tù nhân có sự trở về dần dần với đời sống xã hội.

- Quan tâm về mặt tín gưỡng; đề cao giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp, tham vấn công ăn việc làm, phát triển thể lực, đạo đức ...phù hợp với nhu cầu cá nhân của tù nhân, có tính đến lý lịch tư pháp của họ...nhằm không tạo ra khoảng cách quá lớn khi trở về với xã hội.

- Lao động trong nhà tù không được tạo ra và mang tích chất khổ sai; giáo dục nhất là cho những tù nhân mù chữ, tù nhân là người chưa thành niên là công việc bắt buộc; đồng thời chú ý duy trì và cải thiện quan hệ xã hội hiện tại và sau này như quan hệ giữa tù nhân với gia đình vì lợi ích tốt nhất cho cả hai bên.

Như vậy, chuẩn mực pháp lý quốc tế bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự chính là hệ thống các văn kiện pháp lý được cộng đồng quốc tế xây dựng dựa trên sự nhất trí và đồng thuận của các quốc gia nhằm bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành án. Các chuẩn mực này đề cao quyền con người của cá nhân và trách nhiệm của các quan chức thực thi pháp luật là phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện nhằm giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm quyền và các lợi ích hợp pháp của cá nhân khi thực thi công vụ trong khi đó không làm giảm đi mục đích của cơ quan tố tụng và quan chức thực thi pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.


Tác giả: TS. Tường Duy Kiên, Học viện Chính trị Quốc gia
Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 5/2006   

 



[1] Điều 1, Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật. Quyền con người trong quản lý tư pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2000.

[2] Quyền con người trong quản lý tư pháp, ST Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, tr 152

[3] Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về những biện pháp không giam giữ (Quy tắc Tôkiô), sđd, tr 135

[4] Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân, sđd, tr 196, 197, 198.

[5] Sđd, tr34

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất