Một số vấn đề đồng phạm trong vụ án hình sự
15:2' 21/8/2009
Tội phạm do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện, khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và hành động có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm. Đồng phạm là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện)...

So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”, do đó việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm có một số điểm khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ. Việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm, một mặt phải căn cứ vào những nguyên tắc chung được áp dụng cho tất cả những trường hợp phạm tội, mặt khác phải tuân thủ những nguyên tắc có tính đặc thù. Thứ nhất, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà chúng cùng thực hiện; Thứ hai, khi xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm cần tuân thủ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc đã cùng thực hiện tội phạm. Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của những người đồng phạm khác mà trước đó không có sự bàn bạc và thống nhất với nhau cũng như không có sự tiếp nhận mục đích của nhau. Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình sự…được áp dụng riêng đối với từng người phạm tội.

Khoản 1 Điều 20 BLHS có quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Theo quy định này, để thoả mãn vấn đề đồng phạm cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất: phải từ hai người trở lên, những người này phải có đủ dấu hiệu về chủ thể của tội phạm. Đây là điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Thứ hai: cố ý cùng thực hiện một tội phạm, tức là mỗi người trong đồng phạm đều có hành vi tham gia vào thực hiện tội phạm, hành vi của mỗi người được thực hiện không biệt lập nhau mà trong sự liên kết với nhau, hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người khác và ngược lại, hành vi phạm tội của mỗi người đều nằm trong hoạt động phạm tội của cả nhóm, với mục đích chung là đạt được kết quả thực hiện tội phạm. Vì vậy, sẽ không được coi là đồng phạm khi một số người đã cùng thực hiện một tội phạm và cùng một thời gian, nhưng giữa những người này không có sự bàn bạc, liên hệ, ràng buộc, hỗ trợ nhau mà hành vi của từng người đều thực hiện độc lập. Ví dụ 1: do bà K. không khoá cửa, chỉ khép hờ đi tập thể dục buổi sáng, lợi dụng sơ hở này Trần Văn H. đã lẻn vào nhà bà K. lục soát và lấy tài sản trị giá trên 1 triệu đồng, cùng thời điểm đó N. đi ngang qua, thấy sơ hở cũng vào nhà bà K. trộm cắp tài sản. Hành vi của H và N đều là hành vi trộm cắp tài sản, xảy ra trong cùng một thời gian, tại cùng một địa điểm nhưng giữa N và H không có sự bàn bạc, không cùng cố ý thực hiện tội phạm mà mỗi người đều hành động độc lập. Do đó trong trường hợp này không có đồng phạm.

Việc cùng thực hiện tội phạm có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (người thực hành), thực hiện hành vi chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm (người tổ chức), người thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ, xúi giục người khác thực hiện tội phạm (người xúi giục); tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho người khác thực hiện tội phạm (người giúp sức). Nếu không có một trong những hành vi nêu trên thì không thể được coi là người cùng thực hiện và do vậy cũng không thể là người đồng phạm.

Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự cùng tham gia của những người đồng phạm khác. Cùng cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai phương diện về lý trí và ý chí. Về lý trí: mỗi người đồng phạm đều nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi của mình, nhận thức được tính chất nguy hiểm của những người đồng phạm khác, thấy trước được việc gây ra hậu quả chung của hành vi phạm tội đó. Về ý chí: những người đồng phạm khi thực hiện hành vi đều mong muốn cùng thực hiện tội phạm và mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra.

Trong khoa học Luật hình sự, căn cứ vào các đặc điểm về mặt chủ quan và khách quan của tội phạm đồng phạm được chia ra nhiều hình thức: đồng phạm có thông mưu trước, đồng phạm không có thông mưu trước; đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. Chỉ trên cơ sở nắm vững các hình thức đồng phạm, đặc điểm đồng phạm mới vận dụng tốt khi giải quyết vụ án. Tuy vậy, thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử cho thấy nhận thức về đồng phạm hiện nay chưa được thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, vẫn còn nhiều quan điểm và ý kiến trái ngược nhau. Những ý kiến khác nhau này đã gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng: Hai hay nhiều người cùng bàn bạc thống nhất, cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng tội phạm mà những người này thực hiện phải cùng một tội danh mới là đồng phạm. Nếu mỗi đối tượng bị quy kết về những tội danh khác nhau thì vấn đề đồng phạm tự nó bị triệt tiêu. Ví dụ 2: A và B rủ nhau đi trộm cắp tài sản, cả hai cùng thống nhất như sau: A vào nhà lấy tài sản, còn B đứng ngoài canh gác, sau khi A vào nhà bà K lấy tài sản thì bị chủ nhà là bà K phát hiện, A đã tấn công lại chủ nhà nhằm chiếm giữ cho được tài sản mà mình đã lấy, B đứng ngoài canh gác không biết gì về sự việc này, tài sản A lấy được chỉ là 1 đầu VCD Trung Quốc trị giá 400.000 đồng. Trong trường hợp này, lúc đầu giữa A và B là có đồng phạm về hành vi trộm cắp tài sản vì giữa hai đối tượng này đã có sự bàn bạc thống nhất với nhau về phương án và cách thức hành động phạm tội, nhưng sau đó quá trình thực hiện hành vi phạm tội đã phát sinh những vấn đề ngoài sự bàn bạc của hai người, từ thời điểm này vấn đề đồng phạm tự nó đã bị triệt tiêu, do đó việc xử lý đối với A và B sẽ căn cứ vào nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự và như vậy A phạm tội “Cướp tài sản”, còn B chỉ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản lấy được là 400.000 đồng nên nếu hành vi của B không gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã được xoá án tích, thì hành vi của B không cấu thành tội phạm.

Ví dụ 3: A và B đều là quân nhân tại ngũ, A là chỉ huy trực tiếp của B. Do quá tức tối về việc C (là bạn của B và là cấp dưới trực tiếp của A) yêu cô L. là người mà A đang theo đuổi. A đã gặp B bàn bạc lên kế hoạch, vạch định phương hướng làm nhục chiến sĩ C. Sau đó cả hai đã làm nhục C trước toàn đại đội. Quá uất ức C chỉ biết khóc và rất xấu hổ trước những đồng đội khác trong đơn vị. Trong trường hợp này A đã có hành vi làm nhục cấp dưới, còn B có hành vi làm nhục đồng đội. Hai người tuy cố ý  thực hiện tội phạm nhưng khi xử lý vì là những chủ thể khác nhau A là chỉ huy, còn B là cấp dưới nên không xử lý cùng một tội danh, do đó A và B cũng không đồng phạm.

Ví dụ 4: Đ. đang ngồi uống nước tại quán nước nhà bà X. nhìn thấy KH và TH đang đuổi đánh nhau, trong hai người đó, KH là bạn rất thân của Đ. Thấy vậy, Đ đã cầm một đoạn gậy chắc dài 1m lao ra cùng KH đánh TH; KH thấy Đ vào đã gật đầu tán thành. Hậu quả TH bị thương với tỷ lệ thương tích 32%. Khi xử lý vụ án này nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng: khi đánh TH, KH chỉ dùng tay không đánh, còn Đ đã dùng gậy đánh; hơn nữa lý do KH đánh TH là do TH đã có những hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến KH và sự tấn công này của KH được xác định là trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Nếu xử lý thì KH sẽ phạm tội Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần kích động mạnh theo Điều 106 BLHS, còn Đ thì phạm tội Cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS. Mỗi người sẽ xử lý theo một tội danh khác nhau, do đó theo quy định tại Điều 20 BLHS thì Đ và KH không đồng phạm vì không bị xử lý cùng một tội danh, nếu không đồng phạm thì phải tách thương tích và xử lý từng đối tượng trên cơ sở hậu quả gây ra của mỗi người theo nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Nếu khi tách thương tích của người bị hại đưa đến kết quả là: vết thương do Đ dùng gậy đánh TH để lại tỷ lệ thương tích 30%, còn vết thương do KH gây ra khi đánh TH bằng tay không có tỷ lệ 2%, thì có nghĩa Đ bị xử lý hình sự, còn KH thì không bị xử lý hình sự. 

Nhóm ý kiến thứ hai không đồng tình với nhóm ý kiến thứ nhất, theo nhóm này thì đồng phạm được hiểu là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và trước hết phải thoả mãn điều kiện về chủ thể (độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự), nhưng với điều kiện thứ hai là cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nhóm ý kiến này cho rằng hành vi cố ý cùng thực hiện một tội phạm là cùng cố ý với hành vi phạm tội và cùng mong muốn hậu quả chung sẽ xảy ra, không cần phải cùng một tội danh. Thậm chí nếu hành vi phạm tội của các đối tượng trên thoả mãn những quy định của pháp luật về phạm tội có tổ chức thì vẫn phải viện dẫn và xử lý. Nhóm ý kiến này lập luận như sau: về vụ án trong ví dụ 4 nêu trên, mặc dù hai đối tượng KH và Đ trước đó không có sự bàn bạc với nhau về việc đánh TH, nhưng khi Đ lao vào hỗ trợ, thì KH đã gật đầu đồng ý, tức là giữa chúng đã tiếp nhận mục đích của nhau để cùng thực hiện hành vi đánh TH, do đó Đ và KH phải là đồng phạm. Quá trình đánh TH, KH dùng tay không đánh, còn Đ dùng gậy đánh, nhưng KH biết Đ khi vào đánh TH có dùng gậy và đã chấp nhận việc Đ giúp sức cho mình, nên cả hai đối tượng đều phải chịu tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng là “dùng hung khí nguy hiểm”. Theo nhóm ý kiến này cho rằng giữa hai đối tượng có dấu hiệu của đồng phạm nên không thể tách thương tích của người bị hại để xử lý riêng từng đối tượng được, mà cả hai đều phải chịu chung hậu quả do chúng cùng gây ra đối với TH là 32%. Khi cá thể hoá trách nhiệm hình sự, KH có yếu tố phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của TH gây ra, thì KH được hưởng tình tiết này, Đ không có nên không được hưởng. Mỗi đối tượng tuy bị xử lý ở những điều luật khác nhau, nhưng phải xác định là có đồng phạm mới chính xác. 

Đồng phạm không phải là tình tiết tăng nặng, cũng không phải là tình tiết định khung hình phạt, nhưng trong một số trường hợp, đồng phạm có ý nghĩa rất lớn đến việc xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không như ở ví dụ 4. Thậm chí nếu giữa những người phạm tội trước đó có sự câu kết chặt chẽ, đề ra kế hoạch và định phương hướng hành động cụ thể, phân công công việc cho từng người, bàn bạc kỹ lưỡng thì theo nhóm ý kiến thứ nhất cũng không được coi là “phạm tội có tổ chức” vì “phạm tội có tổ chức” trước hết phải thoả mãn điều kiện đồng phạm, nếu các đối tượng bị xử lý ở những tội danh khác nhau thì đồng phạm bị phá vỡ, còn nhóm ý kiến thứ hai thì vẫn cho rằng đồng phạm. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc xác định đồng phạm có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn cả về lý luận và thực tiễn trong điều tra, truy tố, xét xử.

Chúng tôi đồng tình với nhóm ý kiến thứ hai, giữa những người phạm tội có sự bàn bạc thống nhất hành động hoặc giữa những người này tuy chưa có sự bàn bạc, thống nhất nhưng đã hiểu và tiếp nhận mục đích của nhau thì đó là đồng phạm. Vấn đề có cần phải cùng một tội danh hay không theo chúng tôi không nên đặt ra, chỉ cần cùng hành vi phạm tội và cùng mong muốn hậu quả chung xảy ra tức là cố ý cùng thực hiện tội phạm là đã thoả mãn yếu tố đồng phạm. Quay trở lại với quan điểm của nhóm ý kiến thứ nhất, họ cho rằng mặc dù trước khi vào nhà bà K lấy tài sản A và B đã bàn bạc thống nhất với nhau, đã vạch định phương hướng và kế hoạch hành động, thậm chí chúng còn dành thời gian theo dõi đối tượng và có phương án thích hợp để hành động, tuy nhiên nếu A vào nhà lấy tài sản bị phát hiện, đã chống trả lại nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản, còn B đứng ngoài không hay biết gì về hành vi vượt quá sự bàn bạc lúc trước của hai người, theo nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự thì hành vi vượt quá của người nào trong nhóm đồng phạm thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của mình. Nếu cho rằng mỗi đối tượng đã phạm vào những tội khác nhau, vấn đề đồng phạm tự nó sẽ bị “triệt tiêu” theo chúng tôi là không hợp lý. Trong trường hợp này đồng phạm là có, nhưng xử lý ai, xử lý như thế nào, xử lý về tội gì thuộc về nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Nếu có sự câu kết chặt chẽ thì  những người phạm tội vẫn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (theo quy định tại khoản 1 Điều 48 BLHS) hoặc thậm chí là tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội có tổ chức” trong một số tội phạm cụ thể, mặc dù mỗi đối tượng khi cá thể hoá trách nhiệm hình sự sẽ bị xử lý ở những tội danh khác nhau. Bởi lẽ hậu quả chung do A và B cùng gây ra là trị giá tài sản 400.000 đồng mà chúng lấy được của bà K, tài sản này là tình tiết định tội “Cướp tài sản” đối với A vì có hành vi “dùng vũ lực” nhằm chiếm đoạt tài sản của bà K, đồng thời trị giá tài sản này cũng là tình tiết xem xét để định tội đối với B về hành vi trộm cắp tài sản, nếu cho rằng A và B không có đồng phạm thì không thể giải quyết được trường hợp của B, đó là điều không hợp lý.

Đối với ví dụ thứ 2, nếu giữa người chỉ huy A và chiến sĩ B đã có sự bàn bạc cụ thể, chu đáo về cách thức làm nhục, thời gian, địa điểm làm nhục…thì mặc dù A và B là những chủ thể khác nhau có thể bị xử lý ở những tội danh khác nhau, nhưng trường hợp này vẫn bị coi là đồng phạm, thậm chí có thể xem là phạm tội có tổ chức vì giữa A và B đã có sự bàn bạc và sự câu kết hết sức chặt chẽ khi phạm tội.

Trên đây là quan điểm của chúng tôi về vấn đề đồng phạm, do quy định của pháp luật chưa chặt chẽ nên đã dẫn đến những cách hiểu và giải quyết khác nhau trên thực tiễn, thiết nghĩ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất.

Tác giả: TS. Nguyễn Văn Huyên, ThS. Nguyễn Thị Thanh Mai - Học viện Tư pháp 
Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 5/2007

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất