Mặt khách quan của tội giết người là những biểu hiện của tội giết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vi khách quan của tội giết người, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan với hậu quả nguy hiểm cho xã hội đó. Nghiên cứu mặt khách quan của tội giết người không những giúp ta xác định hành vi của một người nào đó có tội hay không có tội, tội đó là tội gì, mà còn giúp ta xác định ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội đó.
Hành vi khách quan của tội giết người là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí. Đây là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là hành vi đó phải có khả năng gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật. Những hành vi không có khả năng gây ra cái chết cho người khác hoặc tuy có khả năng gây ra cái chết cho người khác, nhưng không trái pháp luật (như hành vi phòng vệ chính đáng, thi hành án tử hình...) thì đều không phải là hành vi khách quan của tội giết người.
Về phạm vi tính trái pháp luật của hành vi (cố ý) gây ra cái chết cho người khác, hiện nay, trên thế giới còn có nhiều quan điểm khác nhau. Nếu như Việt Nam và hầu hết các nước đều cho rằng, hành vi (cố ý) gây ra cái chết cho người mắc bệnh hiểm nghèo trong mọi trường hợp vẫn bị coi là trái pháp luật, vẫn (có thể) phạm tội giết người, thì một số nước khác như Bỉ, Hà Lan... lại cho rằng, hành vi (cố ý) gây ra cái chết cho người mắc bệnh hiểm nghèo - trong một số trường hợp - không phạm tội giết người.
Theo qui định tại khoản 2 Điều 293 BLHS Hà Lan năm 2002 thì: Việc giết người sẽ không bị truy cứu TNHS nếu nó được thực hiện bởi bác sĩ và đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây: 1) Tình trạng của bệnh nhân là không thể cứu chữa được; 2) Sự đau đớn của bệnh nhân là không thể chịu đựng nổi; 3) Bệnh nhân hoàn toàn minh mẫn về trí tuệ và hoàn toàn đồng ý với việc dùng biện pháp y tế để được chết nhẹ nhàng.
Ở Bỉ, tại Chương 2 Điều 3 Luật về cái chết không đau đớn ngày 16-5-2002 cũng có những qui định tương tự. Theo Luật này, bác sĩ thực hiện việc hỗ trợ chết sẽ không bị truy cứu TNHS nếu bác sĩ đó cam đoan rằng, bệnh nhân có năng lực hành vi vào thời điểm đưa ra đề nghị hỗ trợ chết. Về phương diện y học, bệnh nhân phải ở trong hoàn cảnh không có triển vọng và trong tình trạng đau đớn kéo dài đến mức không thể chịu đựng được, không thể giảm nhẹ được hoặc là hệ quả của một bệnh hiểm nghèo không thể chữa được... [1].
Theo chúng tôi, Luật về cái chết không đau đớn là một văn bản pháp lí mới, tuy nó thể hiện tư tưởng nhân đạo, nhưng không phù hợp với đạo đức và truyền thống "thương nòi" của người Việt Nam chúng ta. Hơn nữa, đây là vấn đề phức tạp và nhạy cảm nên mặc dù đã được đưa vào Dự thảo Bộ luật Dân sự tại kì họp thứ 7 Quốc hội Khóa XI (tháng 6/2005) nhưng vẫn chưa được Quốc hội biểu quyết thông qua. Vì vậy, chúng tôi (vẫn) ủng hộ quan điểm chính thống của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Hành vi (cố ý) gây ra cái chết cho người mắc bệnh hiểm nghèo vẫn bị coi là trái pháp luật và người thực hiện hành vi đó vẫn phải chịu TNHS.
Tội giết người là tội phạm có cấu thành vật chất, hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc, vì vậy, quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của tội giết người với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người cũng là dấu hiệu bắt buộc. Hành vi khách quan của tội giết người được coi là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người nếu thoả mãn ba điều kiện: 1) Hành vi khách quan của tội giết người phải xảy ra trước hậu quả chết người về mặt thời gian; 2) Hành vi khách quan của tội giết người độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hay nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người; 3) Hậu quả chết người đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi. Việc xác định đúng nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người giúp các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử khẳng định có hành vi giết người xảy ra hay không? Ai là người thực hiện hành vi đó? Hành vi đó cấu thành tội phạm giết người hay cấu thành tội phạm khác?... Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội giết người trong những năm qua cho thấy, việc xác định đúng nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người là vô cùng quan trọng nhưng rất khó khăn, phức tạp. Có những vụ án, do trình độ hạn chế hoặc thiếu trách nhiệm mà Điều tra viên hoặc Giám định viên đã mắc nhiều lỗi trong khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi như: Không lấy mẫu phủ tạng của người chết do độc tố để giám định; không đo kích thước, độ sâu các vết thương; không xác định vết thương nào gây nên cái chết của nạn nhân... nên đã xác định không đúng nguyên nhân gây ra hậu quả chết người, dẫn đến việc xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Vụ án sau đây là một ví dụ: Bà N bị chết trong đêm. Ngay hôm sau, Cơ quan điều tra và Giám định viên đến khám nghiệm hiện trường, giải phẫu tử thi. Do không xem xét kỹ nốt buộc dây để treo cổ nên đã kết luận là bà N tự sát. Khi gia đình nạn nhân có đơn đề nghị xem xét lại, Cơ quan điều tra đã nghiên cứu và thấy: Nạn nhân bị treo buông thõng ở giữa nhà, đầu dưới sợi dây là một thòng lọng, đầu trên không cố định mà chỉ vắt qua xà ngang rồi vòng xuống buộc thêm một vòng quanh cổ nạn nhân. Qua điều tra đã bắt được T, kẻ giết bà N bằng cách treo cổ bà khi bà đang ngủ [2]. Có không ít trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không thể xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người vì một số lý do như gia đình nạn nhân tự ý chôn cất, không báo cáo chính quyền hoặc tuy báo chính quyền, nhưng do các cơ quan chức năng cho rằng đó chỉ là một vụ tự tử, một vụ tai nạn, nên đã cho mai táng hoặc do phong tục tập quán địa phương mà gia đình nạn nhân đã không cho mổ tử thi để khám nghiệm... Vì vậy, rất khó khẳng định được đó là vụ giết người hay tai nạn hoặc tự sát, nên có thể đã bỏ lọt tội phạm [3].
Ngoài những tồn tại, vướng mắc như đã nêu trên, thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy, không ít trường hợp, do các tình tiết liên quan đến cái chết của nạn nhân không rõ ràng hoặc do thủ phạm cố tình làm sai lệch hiện trường, tạo ra một vụ tai nạn hay tự sát giả, gây khó khăn cho việc làm rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân. Trong những trường hợp này, để làm rõ nguyên nhân gây ra hậu quả chết người cần căn cứ vào đặc tính và nơi định vị của các thương tích tìm thấy trên tử thi khi tiến hành khám nghiệm, đặc điểm và nơi tìm thấy những vũ khí gây chết người và những tình tiết khác của vụ án. Đối với trường hợp nạn nhân bị bắn, nếu là vụ giết người thường có những đặc điểm như: khẩu súng tìm thấy ở hiện trường không phù hợp với dấu vết bắn; vị trí và khoảng cách giữa các vết bắn loại trừ khả năng nạn nhân tự gây ra... Đối với trường hợp nạn nhân bị giết bằng dao thì những tình tiết sau cho thấy đây có thể là vụ án giết người: đặc tính và vị trí của những dấu vết thương tích có trên tử thi loại trừ khả năng nạn nhân tự sát; không phù hợp giữa những vết rách trên quần, áo của nạn nhân đang mặc trên người với những dấu vết thương tích trên người nạn nhân... Đối với những trường hợp nạn nhân ngã từ trên cao xuống, Điều tra viên cần chú ý những tình tiết sau có thể chỉ ra đây là vụ án giết người: vị trí rơi của tử thi so với độ cao từ mặt đất đến nơi tử thi nằm loại trừ khả năng nạn nhân tự nhảy từ trên cao xuống; trên tử thi có những dấu vết loại trừ khả năng chết do ngã gây ra... [4].
Xác định đúng nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người không những giúp các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử khẳng định có hành vi giết người xảy ra hay không mà còn có thể đưa ra kết luận ai là người đã thực hiện hành vi đó. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội giết người trong những năm gần đây cho thấy, không ít trường hợp, do xác định không đúng mối quan hệ nhân quả nên đã xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Những vụ án sau đây sẽ minh chứng cho nhận định này:
Vụ án 1: Để diệt chuột, bảo vệ mùa màng, Đặng Văn Chuyền ở thôn Nứa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang đã giăng dây điện trần quanh ruộng lúa, cách mặt nước 2 cm rồi nối vào nguồn điện. Cùng thời gian này, hai anh Đặng Văn Mẩu và Hứa Văn Hưởng (người cùng xóm) cũng có những hành vi tương tự. Đêm ngày 05/9/1999, anh Nguyễn Văn Thường đi soi nhái vướng vào dây điện của Đặng Văn Mẩu và Hứa Văn Hưởng nên đã bị điện giật chết. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, do không xác định đúng nguyên nhân gây ra cái chết của anh Nguyễn Văn Thường nên đã tạm giam, truy tố, xét xử anh Đặng Văn Chuyền về tội giết người. Tại phiên tòa phúc thẩm, Đặng Văn Chuyền đã được minh oan: “Đặng Văn Chuyền không phạm tội giết người vì hành vi của Đặng Văn Chuyền không phải là nguyên nhân gây ra hậu quả” [5].
Vụ án 2: Khoảng 12 giờ ngày 04/01/1999, Nguyễn Văn Nhiệm, Lê Đình Thành, Bùi Văn Hưng, Lê Đình Hồng đều là người ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây đánh nhau với anh Nguyễn Ngọc Tới. Hồng cầm gậy vụt liên tiếp vào ngực Tới. Hưng dùng côn vụt vào chân của Tới. Nhiệm dùng dao đâm một nhát vào hông Tới. Thành dùng kiếm chém vào sau vai trái của Tới. Anh Tới bỏ chạy được một đoạn thì ngã gục và đã bị chết lúc 17 giờ cùng ngày trên đường đi cấp cứu. Kết kuận giám định pháp y ngày 21/8/1999 đã xác định: “Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Ngọc Tới là do sốc mất máu lớn vì vết thương thấu bụng... Vết bầm tụ máu ở lưng và bả vai trái là do các vật tày có diện giới hạn gây nên. Vết bầm tụ máu ở mạng sườn phải là do tác động của vật tày gây ra, chấn thương này còn gây nên bầm tụ máu trên gan”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 84/HSST ngày 31/7/2001, TAND tỉnh Hà Tây đã tuyên Bùi Văn Hưng không phạm tội giết người... Tại Quyết định kháng nghị số 437/KSXXHS, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây đề nghị kết án Bùi Văn Hưng về tội giết người. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 421/HSPT ngày 04/4/2002, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) tại Hà Nội đã y án sơ thẩm đối với Bùi Văn Hưng và kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét lại hành vi phạm tội của Bùi Văn Hưng. Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 12/HS-TK ngày 31/3/2003, Chánh án TANDTC đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC huỷ phần tuyên bố Bùi Văn Hưng không phạm tội giết người của bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Bùi Văn Hưng về tội giết người. Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) nhất trí với kháng nghị của Chánh án TANDTC. Xét thấy, Tòa sơ thẩm cho rằng, nguyên nhân chính gây tử vong cho anh anh Nguyễn Ngọc Tới là do vết dao đâm của Nguyễn Văn Nhiệm và hành vi của Nhiệm là vượt quá mục đích của đồng bọn. Bùi Văn Hưng chỉ có hành vi dùng côn vụt vào chân của nạn nhân và là hành vi xảy ra trước hành vi của Nhiệm nên không kết án Bùi Văn Hưng về tội giết người. Nhận định như vậy là đánh giá không đúng các tình tiết và chứng cứ trong quá trình diễn biến vụ án, bởi lẽ, Bùi Văn Hưng đã tham gia bàn bạc đi đánh trả thù cùng đồng bọn. Hưng biết rõ đồng bọn chuẩn bị và mang theo hung khí nguy hiểm như dao, lưỡi lê, gậy... và Hưng cũng mang theo một đôi côn để đi đánh nhau. Trong vụ án này, Bùi Văn Hưng là người tham gia thực hiện tội phạm rất tích cực. Tại nhà anh Nguyễn Ngọc Tới, khi thấy anh Tới chạy từ trong nhà ra, Hưng cùng đồng bọn đã xông vào. Hưng trực tiếp cầm côn đánh liên tiếp vào anh Tới làm anh Tới bị ngã, tạo điều kiện để Nhiệm xông vào dùng dao đâm anh Tới. Trên người anh Tới không phải duy nhất chỉ có vết dao đâm của Nhiệm mà có rất nhiều vết thương bầm tím do vật tày gây ra phù hợp với hung khí là côn và gậy do Hưng và đồng bọn sử dụng. Do đó, có đủ căn cứ kết luận, hậu quả anh Nguyễn Ngọc Tới bị chết là do hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Nhiệm, Lê Đình Thành, Lê Đình Hồng và Bùi Văn Hưng gây ra. Vì các lẽ trên, Hội đồng Thẩm phán TANDTC quyết định: “Huỷ một phần bản án hình sự sơ thẩm số 84/HSST ngày 31/7/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây và một phần bản án hình sự phúc thẩm số 421/HSPT ngày 04/4/2002 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội đã xét xử và tuyên bố Bùi Văn Hưng không phạm tội giết người; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây để xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Bùi Văn Hưng phạm tội giết người...” [6].
Ngoài những ý nghĩa như đã nêu trên, nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội. Vụ án sau đây sẽ minh chứng cho nhận định này: Đêm ngày 24/9/1997, chị V đẻ đứa con đầu lòng. Người đỡ đẻ cho chị là bác sỹ N. Đây là ca đẻ ngôi ngược. Khi đỡ được đứa trẻ ra thì đứa trẻ đã bị gãy một phần ba xương cánh tay trái, tình trạng yếu, chỉ còn thoi thóp và không khóc được. Bác sỹ N ra bảo với người nhà chị V là đứa trẻ đã chết và quấn vải màn để đứa trẻ nằm trên bàn, đóng cửa không cho người nhà chị V vào nhìn mặt đứa trẻ lần cuối. Khoảng 20 phút sau, bà T là mẹ của chị V đã liều xông vào. Thấy cháu bé vẫn còn thoi thóp thở, bà T gọi bác sỹ N nhưng bác sỹ N nói: “Nó chỉ còn thoi thóp thở, cứu sao được”. Tuy nhiên, bà T vẫn cùng gia đình đưa cháu bé lên bệnh viện tuyến trên để cấp cứu thì thấy cháu bé đã bị gãy kín một phần ba xương cánh tay trái do sang chấn sản khoa, bỏng nước sôi độ 2 ở mu bàn chân và hai cẳng chân. Phần cuống rốn bị cắt sát đến tận da, chỉ buộc rốn bị tuột gây chảy nhiều máu. Mặc dù đã được các bác sỹ tận tình cứu chữa nhưng sau năm ngày điều trị, cháu bé đã chết. Xung quanh vụ án này, có nhiều ý kiến khác nhau.
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Bác sỹ N đã phạm tội giết người.
Ý kiến thứ hai cho rằng: Bác sỹ N không phạm tội giết người mà phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Đây cũng là quan điểm của tác giả đưa ra vụ án này) [7].
Theo chúng tôi, dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt tội giết người với tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng chính là mối quan hệ nhân quả. Nếu trong tội giết người, can phạm bằng hành vi của mình trực tiếp tác động vào cơ thể của nạn nhân, gây ra cái chết cho nạn nhân thì trong tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân lại không phải là hành vi của người phạm tội tác động vào cơ thể của nạn nhân mà chính là tình trạng nguy hiểm và tình trạng này không phải do người phạm tội cố ý gây ra. Căn cứ vào tiêu chí trên, bác sỹ N không phạm tội giết người mà phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.
Trên đây là một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến mặt khách quan của tội giết người. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo./.
ThS. Đỗ Đức Hồng Hà - GV khoa Luật Hình sự - Trường ĐH Luật Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
[1]. Hanoi Law University - Georg - August Universitat Gottingen (2003), International Conference on Law and Globalization, Ha Noi, 25 - 26 March, 2003, page 9 - 16.
[2], [3], [4]. Triệu Quốc Kế (1998), Điều tra các vụ án giết người chưa rõ thủ phạm ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, trang 66 - 68, 67 - 68, 98 - 100.
[5]. Bảo Thư (2003), “Người được minh oan thoát tội giết người”, Tạp chí Pháp lý, (số 12), trang 18-20.
[6]. Hội đồng thẩm phán TANDTC (2003), Quyết định số 14/HĐTP-HS ngày 26/7/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC v/v Nguyễn Văn Nhiệm cùng đồng bọn phạm tội “Giết người”, “Gây rối trật tự công cộng”, Hà Nội.
[7]. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2002), (số 9 năm 2002), trang 37.