Hoạt động điều tra của các Điều tra viên kết hợp chặt chẽ với hoạt động trinh sát, góp phần không nhỏ nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp tội phạm. Chính phủ, các Bộ liên quan đã có nhiều quy định, chính sách hỗ trợ, khuyến khích, động viên đối với chức danh tư pháp này. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 06/2001/QĐ-TTg quy định về chế độ bồi dưỡng đối với một số chức danh tư pháp (sau đây viết gọn là Quyết định số 06). Trong đó, có quy định về chế độ bồi dưỡng đối với chức danh Điều tra viên. Tại khoản a, điều 1 của Quyết định số 06 nêu: “Quy định chế độ bồi dưỡng đối với Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án đang làm việc tại các cơ quan tư pháp (kể cả thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) như sau: a)Mức 120.000 đồng/người/tháng áp dụng đối với Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên”. Tuy nhiên, mức bồi dưỡng này đối với Điều tra viên được giữ nguyên từ đó đến nay, trong khi mức bồi dưỡng, phụ cấp đối với các chức danh khác như Thẩm phán, Kiểm sát viên đã được thay đổi hợp lý hơn. Cụ thể, mức phụ cấp trên của ngành Tòa án, Kiểm sát hiện đã được điều chỉnh là 20%, 25%, 30% hệ số lương (theo Quyết định số 171/2005/QĐ-TTg, Quyết định số 138/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).
Như vậy, chế độ đãi ngộ đối với Điều tra viên hiện rất thấp so với các chức danh tư pháp khác và với tình hình thực tế hiện nay. Để có chế độ khuyến khích hợp lý hơn đối với chức danh Điều tra viên, Chính phủ, các Bộ liên quan cần sớm nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi các quyết định liên quan. Trước hết là Quyết định số 06 nhằm phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, góp phần động viên, khuyến khích những đối tượng này trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Có thể quy định tăng mức bồi dưỡng từ 120.000 đồng/người/tháng lên 500.000- 650.000 đồng/người/tháng; cũng có thể quy định mức phụ cấp 20%, 25%, 30% hệ số lương theo các cấp bậc Điều tra viên khác nhau (cao cấp, trung cấp, sơ cấp).
Về thời hạn bổ nhiệm Điều tra viên. Theo quy định hiện hành về nhiệm kỳ của Điều tra viên được quy định tại Pháp lệnh về Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì: “nhiệm kỳ của Điều tra viên là 5 năm kể từ ngày được bổ nhiệm”. Việc giới hạn về nhiệm kỳ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với các chức danh tư pháp nói chung và chức danh Điều tra viên nói riêng có thể gây ra tiêu cực trong quá trình xem xét để được đề nghị bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ theo quy định, tạo ra những thủ tục hành chính rườm rà trong một thời gian không dài (chỉ 5 năm), không phù hợp với quá trình thực hiện cải cách hành chính. Quan trọng hơn là chưa phù hợp với thực tiễn công tác và tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 “Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”. Vì vậy, có thể quy định sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh Điều tra viên từ 5 năm lên 10 năm hoặc 15 năm; cũng có thể quy định không giới hạn về thời gian bổ nhiệm, nhiệm kỳ bổ nhiệm đối với chức danh Điều tra viên. Như vậy mới phù hợp, góp phần đẩy nhanh tiến trình thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, gắn công tác cải cách tư pháp với công tác cải cách hành chính.