Không thể xem nhẹ quan hệ phối hợp và chế ước trong tố tụng hình sự
16:42' 6/7/2010
Hoạt động tố tụng hình sự có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền của con người, ảnh hưởng đến việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các lợi ích khác của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân. Xuất phát từ sự nhạy cảm và tính chất quan trọng như vậy, nên pháp luật không giao thẩm quyền cho một cơ quan thực hiện toàn bộ quá trình chứng minh và xử lý tội phạm, mà phân ra thành nhiều giai đoạn: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Mỗi giai đoạn tố tụng tương ứng với thẩm quyền của một cơ quan.
Để bảo đảm cho hoạt động tố tụng được khách quan, có căn cứ và hợp pháp, Bộ luật Tố tụng Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định mối quan hệ phối hợp và quan hệ chế ước khi thực hiện các hoạt động tố tụng. Đây là mối quan hệ biện chứng, bảo đảm cho hoạt động tố tụng được kịp thời, khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, do đó nếu thực hiện không tốt tất sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động tố tụng.
Quan hệ phối hợp là sự hỗ trợ cùng thực hiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án được kịp thời theo chức năng, nhiệm vụ được giao, cùng nhau hướng đến mục đích chung là chứng minh và xử lý tội phạm; quan hệ chế ước là sự tác động khống chế, kiềm chế lẫn nhau, bảo đảm cho hoạt động tố tụng được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật. Sự kiểm soát thể hiện qua việc kiểm tra, giám sát, phát hiện các sai sót, thiếu sót để khắc phục. Cụ thể, Viện kiểm sát đề ra các yêu cầu điều tra đối với cơ quan điều tra; viện kiểm sát, tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại… Quan hệ phối hợp và chế ước không chỉ được thể hiện giữa các cơ quan thuộc các hệ thống cơ quan tố tụng khác nhau mà còn thể hiện ngay trong một hệ thống cơ quan, giữa các cấp tố tụng (giữa cấp phúc thẩm và sơ thẩm), giữa các bộ phận, giữa các chức danh ngay trong nội bộ một cơ quan.
Thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy, có nhiều nơi các cơ quan tiến hành tố tụng chưa tạo được sự cân bằng, hợp lý và thực chất trong việc thực hiện quan hệ phối hợp và chế ước: hoặc quá coi trọng quan hệ phối hợp mà quên đi trách nhiệm chế ước; quá nặng nề về chế ước dẫn đến đối đầu, cản trở, gây khó khăn cho nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ. Biểu hiện của sự phối hợp quá mức đó là sự cả nể, bao che, bỏ qua cho nhau về những sai sót nghiệp vụ. Đơn cử, trong một lần làm việc của Ban Pháp chế HĐND tỉnh Q với lãnh đạo Cơ quan điều tra huyện Đ, khi được hỏi về mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp ở địa phương, thủ trưởng cơ quan điều tra không ngần ngại trả lời rằng: mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp tại địa phương quá tốt; nếu có sai sót đều được viện kiểm sát và tòa án cho phép sửa chữa, bổ sung hồ sơ nên trong năm qua không có vụ án nào phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; những vụ án phức tạp đều được bàn bạc thống nhất quan điểm… Thực tế, ít ai nói ra điều này nhưng đây là một sự thật đang tồn tại trong hoạt động tố tụng tại nhiều địa phương. Xuất phát từ sự cả nể, sợ ảnh hưởng đến thành tích của “cơ quan bạn” nên nhiều tòa án địa phương không trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật mà sẵn sàng cho phép viện kiểm sát, Cơ quan điều tra hợp thức hóa hồ sơ đối với những sai sót. Sự dễ dãi của các cơ quan tố tụng không chỉ ảnh hưởng đến tính hợp pháp của các chứng cứ mà gây tác hại sâu xa hơn, đó là không tạo được cơ chế buộc những người tiến hành tố tụng (nhất là các điều tra viên) phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ, rèn luyện tính cẩn trọng trong công tác mà còn tạo ra sức ỳ trong quá trình cải cách tư pháp. Sự phối hợp quá mức còn thể hiện ở sự thụ động, ỷ lại vào quan điểm khởi tố, truy tố, quan điểm thống nhất tại các cuộc họp liên ngành về đường lối giải quyết các vụ án. Có người băn khoăn, cùng một vụ án, cùng một hồ sơ các cơ quan tố tụng lại có quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và cho đó là sự bất bình thường. Tuy nhiên, trong nền tư pháp hiện đại, nếu các cơ quan tố tụng luôn luôn đồng nhất quan điểm thì đó mới là điều bất bình thường và là nguyên nhân dễ dẫn đến oan sai. Sự đối lập, chế ước là con đường dẫn đến sự thật chân lý trong tố tụng. Điều quan trọng đó là quan điểm phản biện, chế ước phải xuất phát từ nền tảng tri thức pháp lý và không thoát ly quy định của pháp luật. Trái ngược với việc phối hợp quá mức là sự chế ước vặt vãnh, bắt bẻ nhau từng câu, từng chữ trong các văn bản tố tụng; đấu khẩu không ai chịu thua ai trong các cuộc họp liên ngành.
Nguyên nhân của thực trạng này trước hết là do trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ tư pháp còn hạn chế. Thực tế, nếu trình độ năng lực của những người tiến hành tố tụng hạn chế thường dẫn đến hai xu hướng: hoặc không thể hiện được quan điểm độc lập mà lệ thuộc vào kết quả điều tra (đối với kiểm sát viên), vào kết quả truy tố (đối với thẩm phán); không đủ khả năng để phát hiện được các sai sót trong giai đoạn tố tụng trước đó; không có quan điểm nhận thức, đánh giá rõ ràng về những tình huống pháp lý phức tạp. Hoặc, sa vào chủ nghĩa bảo thủ không nhận thấy được những sai sót mà người khác hoặc cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm chỉ ra để rồi nhiều vụ án phải xoay vòng qua nhiều cấp xét xử. Nguyên nhân thứ nữa là do yếu tố phẩm chất, đạo đức của những người tiến hành tố tụng. Sự bảo thủ trong nhận thức pháp luật trong nhiều trường hợp xuất phát từ những lợi ích riêng tư. Mức độ phối hợp hay chế ước nhiều khi lại xuất phát từ yếu tố tình cảm riêng tư, sự cả nể, đố kỵ; phụ thuộc vào sự hợp gu hay khắc tính của các lãnh đạo cơ quan tư pháp địa phương…
Như vậy, việc quá thiên về phối hợp hoặc quá thiên về chế ước không đúng lúc, đúng chỗ, thiếu căn cứ đều đi lệch quỹ đạo của chuẫn mực pháp lý, sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến oan, sai. Do đó, công tác cải cách tư pháp không thể xem nhẹ vấn đề này.
Phạm Thái
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân
Các tin tiếp
Các tin trước