Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và những quy định về giao kết hợp đồng điện tử
15:2' 21/8/2009
Luật Giao dịch điện tử đầu tiên của Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/03/2006. Sự ra đời của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng khung pháp luật cho thương mại điện tử, cho giao dịch điện tử, trong đó có hợp đồng điện tử. Đây là đạo luật đầu tiên điều chỉnh trực tiếp việc sử dụng các phương tiện điện tử trong trao đổi, giao dịch. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có phạm vi điều chỉnh khá bao quát, bao gồm các giao dịch điện tử trong các lĩnh vực hành chính, dân sự và thương mại. Việc ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 phù hợp với xu hướng chung của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về thương mại điện tử và hợp đồng điện tử.

Đối với hợp đồng điện tử, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đưa ra một số quy định liên quan đến giao kết hợp đồng điện tử như: khái niệm về hợp đồng điện tử (điều 33); khẳng định giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử (điều 34); nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử (điều 36); khái niệm giao kết hợp đồng điện tử (điều 37). Ngoài ra, Luật còn quy định về chữ ký điện tử; nguyên tắc sử dụng chữ ký điện tử; nghĩa vụ của người ký chữ ký điện tử và của bên chấp nhận chữ ký điện tử v.v…Tuy chưa thật là đầy đủ và cụ thể nhưng những quy định này là những quy tắc pháp luật đầu tiên hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử. Những quy định này có ý nghĩa như những quy định cơ bản, nền tảng để điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử. Với những quy tắc pháp luật này, có thể thấy rõ Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chính là đạo luật khung điều chỉnh giao dịch điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói riêng. Từ đạo luật khung này, nhiều văn bản dưới luật sẽ phải được ban hành nhằm thực thi Luật này trong cuộc sống và hướng dẫn các chủ thể pháp luật thực hiện các giao dịch điện tử và giao kết hợp đồng điện tử.

Bài viết này sẽ phân tích những quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005, đặc biệt nêu bật những mặt tích cực và những điểm chưa hoàn thiện của Luật.

1.      Những mặt tích cực

1.1.            Luật đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa Luật Giáo dịch điện tử năm 2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng điện tử vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng, tức là pháp luật về hợp đồng dân sự, thương mại và kinh tế (điều 35 khoản 2 Luật Giao dịch điện tử năm 2005). Cơ quan lập pháp cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế đất nước. Trong số đó có các văn bản tiêu biểu là Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005. Hai văn bản này ra đời thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/03/2006. Như vậy, cho đến nay, cả ba văn bản này đều đã có hiệu lực.

Về mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 với Luật Thương mại năm 2005 và Luật Giao dịch điện tử năm 2005, có thể khẳng định sự thống nhất, tính không chồng chéo và sự không phủ nhận lẫn nhau giữa các văn bản này đã được quy định rất rõ. Cụ thể:

Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan; 2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó; 3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự”.

Vì Luật Thương mại năm 2005 không có những quy định về hợp đồng thương mại nói chung, do đó, những quy định liên quan đến hợp đồng thương mại nói chung sẽ được điều chỉnh bởi những quy định về hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Những quy định về hợp đồng dân sự được quy định tại chương XVII mục 7, từ điều 388 đến điều 427 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Điều 15 Luật Thương mại năm 2005 đưa ra nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại: “Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản”. Điều 3 khoản 15 Luật Thương mại năm 2005 cụ thể hóa “các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”. Nối tiếp những quy định này trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác” (điều 10). Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”.  Luật cũng khẳng định rõ: “Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” (điều 34 Luật Giao dịch điện tử năm 2005).

Như vậy, một số vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử tương đồng với giao kết hợp đồng truyền thống sẽ được quy định trong pháp luật hợp đồng truyền thống. Ngoài ra, những nội dung đặc trưng, tính đặc thù của việc giao kết hợp đồng điện tử sẽ do các văn bản luật mang tính chuyên ngành điều chỉnh. Các văn bản pháp luật mang tính chuyên ngành điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử, tính cho đến tháng 8/2006 là Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định số 57 về Thương mại điện tử. Điều này có nghĩa là những quy định về giao kết hợp đồng điện tử vừa tuân theo những quy định về hợp đồng truyền thống, vừa tuân theo những quy định có tính chuyên biệt.

1.2. Luật đã đưa ra những quy định cơ bản hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử.

Trong 8 chương và 54 điều khoản. Luật đã dành riêng một chương – chương IV – để quy định về giao kết hợp đồng điện tử. Điều 36 khoản 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng”. Khoản 2 của điều này lưu ý: “Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”.

Việc nhận, gửi…thông điệp trong giao kết hợp đồng điện tử được thực hiện theo quy định tại các điều 17, 18, 19 và 20 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005

Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử được Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định rõ, theo đó, việc lựa chọn giao kết hợp đồng điện tử bằng phương tiện điện tử là sự tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các chủ thể của hợp đồng điện tử được tự do thỏa thuận về việc lựa chọn công nghệ để thực hiện giao kết hợp đồng và không một công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử.

Về phạm vi áp dụng, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được áp dụng cho việc giao kết hợp đồng điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước, trong lĩnh vực dân sự, trong kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định.

Một điểm cần lưu ý là Luật này sẽ không áp dụng đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà (hoặc các bất động sản khác), quyền thừa kế, giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn, giấy khai sinh, giấy khai tử, hối phiếu và các giấy tờ có giá khác. Nói cách khác, hợp đồng điện tử sẽ không có giá trị đối với các quan hệ về mua bán nhà cửa, bất động sản, thừa kế, kết hôn…hoặc các quan hệ về hối phiếu, cổ phiếu v.v…

Để cụ thể hóa các quy định của Luật về Giao kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại, ngày 09/06/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử. Đây là Nghị định hướng dẫn khá chi tiết nhiều vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng thương mại điện tử. Nghị định này quy định chi tiết việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong các hoạt động thương mại ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài (điều 3); thừa nhận giá trị pháp lý các chứng từ điện tử trong giao kết hợp đồng thương mại; quy định về quản lý nhà nước về thương mại điện tử, kể cả xử lý vi phạm pháp luật về thương mại điện tử v.v…

Về phạm vi áp dụng Nghị định số 57/2006/NĐ-CP này, điều 1 của Nghị định nêu rõ Nghị định sẽ được áp dụng khi: “1. Sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 2. Sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật Thương mại và Nghị định này”.

Điều 1 khoản 3 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP này cũng tuyên bố giới hạn phạm vi áp dụng của Nghị định, theo đó, “các quy định của Nghị định không áp dụng đối với việc sử dụng chứng từ điện tử là hối phiếu, lệnh phiếu, vận đơn, hóa đơn gửi hàng, phiếu xuất nhập kho hay bất cứ chứng từ có thể chuyển nhượng nào cho phép bên nắm giữ chứng từ hoặc bên thụ hưởng được quyền nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc được trả một khoản tiền nào đó”.

Như vậy, nếu Luật Giao dịch điện tử năm 2005 điều chỉnh mọi mối quan hệ liên quan đến giao dịch điện tử nói chung thì Nghị định số 57/2006/NĐ-CP  đưa ra các quy định điều chỉnh những vấn đề liên quan đến giao dịch điện tử trong lĩnh vực thương mại, trong đó có giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Điều 3 khoản 1 của Nghị định 57/2006/NĐ-CP quy định chứng từ trong hoạt động thương mại là “hợp đồng, đề nghị, thông báo, tuyên bố, hóa đơn hoặc tài liệu khác do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng”. Điều 3 khoản 2 giải thích “chứng từ điện tử là chứng từ ở dạng thông điệp dữ liệu”.

Việc ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 sẽ là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành giao kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại. Văn bản này nói lên tính chuyên biệt của hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại so với lĩnh vực điện tử phi thương mại.

1.3. Luật đã thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng thương mại điện tử như một hình thức văn bản và có giá trị như bản gốc

Các văn bản pháp luật dân sự, kinh tế, thương mại của Việt Nam đều có quy định về hình thức của hợp đồng, theo đó, hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể (điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2005 và điều 24 Luật Thương mại năm 2005). Tuy nhiên, Bộ luật này cũng như các văn bản pháp luật khác đòi hỏi nhiều loại hợp đồng cụ thể phải được giao kết bằng hình thức văn bản: ví dụ hợp đồng mua bán nhà ở (điều 450 Bộ luật Dân sự năm 2005), hợp đồng nhượng quyền thương mại (điều 285 Luật Thương mại năm 2005)…

Điều đáng chú ý là điều 3 khoản 15 Luật Thương mại 2005 khẳng định rõ: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”. Bằng quy định này, Luật Thương mại 2005 đã công nhận các thông điệp điện tử cũng có giá trị pháp lý như một hình thức văn bản. Và như vậy, tất cả các loại hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005, khi được ký kết thông qua các phương tiện điện tử, đều thỏa mãn yêu cầu về hình thức văn bản, đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng. Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu rất quan trọng cho việc sử dụng các chứng từ điện tử trong giao dịch điện tử nói chung và trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói riêng.

Mạnh hơn, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã khẳng định: “Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” (điều 34 Luật Giao dịch điện tử năm 2005).

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 còn quy định về giá trị chứng cứ của hợp đồng điện tử. Điều 14 khoản 1 của Luật này khẳng định: “Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu”. Khẳng định này làm yên lòng các bên giao kết hợp đồng điện tử về hình thức hợp đồng mà họ giao kết, theo đó, dù tồn tại dưới hình thức các thông điệp dữ liệu, vẫn có giá trị pháp lý làm chứng cứ trước cơ quan giải quyết tranh chấp. Điều 14 khoản 2 còn quy định về các căn cứ để xác định một thông điệp dữ liệu (hay chính là một hợp đồng điện tử) có giá trị làm bằng chứng hay không: cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu phải đảm bảo độ tin cậy; phải có biện pháp bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu…

Trong lĩnh vực thương mại, Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 đã khẳng định rất rõ giá trị của các chứng từ điện tử: “Chứng từ điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì chứng từ đó là chứng từ điện tử” (điều 7). Chứng từ thương mại điện tử “có giá trị pháp lý như văn bản nếu thông tin chứa trong chứng từ điện tử đó có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết” (điều 8). Đặc biệt, để hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này, điều 9 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP quy định rằng chứng từ điện tử không chỉ có giá trị pháp lý như văn bản mà còn có giá trị pháp lý như bản gốc. Điều 9 quy định: “1. Chứng từ điện tử có giá trị như bản gốc nếu thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện sau:

a) Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là chứng từ điện tử hay dạng khác;

b) Thông tin chứa trong chứng từ điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết”.

Điều 9 khoản 2 tiếp tục đưa ra những quy định hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử, theo đó, tiêu chí để đánh giá tính toàn vẹn là thông tin đó còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị chứng từ điện tử.

Như vậy, với những quy định có tính hướng dẫn cụ thể nói trên về giá trị pháp lý của hợp đồng thương mại điện tử và chứng từ thương mại điện tử, các chủ thể giao kết hợp đồng thương mại điện tử có thể yên tâm về mặt pháp lý. Vấn đề còn lại là phải có những quy định hướng dẫn cụ thể về quy trình kỹ thuật công nghệ.

1.4. Đã có những quy định cụ thể hóa các nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Không chỉ thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử và hợp đồng thương mại điện tử, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định 3 nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Đó là 3 nguyên tắc sau :

- Các bên tham gia có quyền tự do thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử;

- Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp luật về hợp đồng;

- Khi giao kết hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực các điều kiện đảm bảo tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó (điều 35 Luật Giao dịch điện tử năm 2005).

Ba nguyên tắc này sẽ cụ thể hóa việc giao kết hợp đồng điện tử không chỉ trong lĩnh vực dân sự và cả trong lĩnh vực thương mại. Như vậy, khi giao kết hợp đồng điện tử, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng nói chung do Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, các chủ thể hợp đồng điện tử còn phải tuân thủ ba nguyên tắc nêu trên.

1.5. Đã có một số quy định hướng dẫn cụ thể về đề nghị giao kết hợp đồng điện tử và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử

Trong việc đàm phán để thiết lập hợp đồng giữa các chủ thể thì đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hai khâu, hai giai đoạn đóng vai trò quan trọng trong quy trình giao kết hợp đồng giữa những người ở xa, không có điều kiện trực tiếp gặp gỡ nhau. Đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện thiện chí của bên đề nghị trong việc mong muốn tiến đến giao kết một hợp đồng với những nội dung thoả mãn các yêu cầu theo quy định của pháp luật. Đề nghị giao kết hợp đồng liên quan đến người đề nghị (người chào hàng…). Còn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là việc người được đề nghị chấp nhận mọi nội dung được nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng liên quan đến người được đề nghị giao kết hợp đồng. Thời điểm gửi, nhận đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng và phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra một nguyên tắc nào để xác định thời điểm gửi, nhận chào hàng và chấp nhận chào hàng. Điều 391 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung cho thiếu sót này bằng cách quy định rằng hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng phát sinh kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng khi “đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị”. Quy định này chính là để áp dụng cho các đề nghị được tạo lập ở dạng thông điệp dữ liệu. Như vậy, nếu hai bên giao kết sử dụng mạng Internet để trao đổi thì thời điểm này sẽ là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng nhập vào hệ thống mạng của người được đề nghị.

Để hướng dẫn các bên giao kết hợp đồng điện tử, điều 36 khoản 2 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 khẳng định: “Trong giao kết hợp đồng điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”. Ngoài ra, Luật còn có một số quy định cụ thể nhằm điều chỉnh một số vấn đề đặc thù trong giao kết hợp đồng điện tử. Đó là các điều khoản quy định về “gửi” và “nhận” thông điệp dữ liệu (hay chính là “gửi” và “nhận” đề nghị giao kết hợp đồng hay chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng). Điều 17 quy định về thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu. Điều 18 quy định về nhận thông điệp dữ liệu; điều 19 quy định về thời điểm, địa điểm nhận thông điệp dữ liệu…. Những quy định này có thể giúp các bên giao kết hợp đồng điện tử xác định được thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng, từ đó có thể giải quyết được một số xung đột phát sinh, đặc biệt đối với các hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài.

Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 đã cụ thể hóa hai giai đoạn đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại. Điều 12 Nghị định này quy định rằng: “Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trong thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận”. Vì hợp đồng điện tử là những hợp đồng được giao kết thông qua các phương tiện điện tử, thông qua các hệ thống thông tin tự động nên Nghị định số 57/2006/NĐ-CP nói trên cũng lưu ý các chủ thể giao kết hợp đồng điện tử rằng: “hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động và một cá nhân, hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết” (điều 13).

Trong trường hợp thông qua các hệ thống thông tin, một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và bên được đề nghị có thể tiếp cận được đề nghị đó thì trong khoảng thời gian hợp lý, bên đưa ra đề nghị phải cung cấp cho bên được đề nghị chứng từ điện tử hoặc các chứng từ liên quan khác chứa những nội dung của hợp đồng. Các chứng từ này phải thỏa mãn điều kiện lưu trữ và sử dụng được.

Nghị định số 57/2006/NĐ-CP nói trên cũng đã đưa ra những quy định có tính hướng dẫn nhằm giúp cho các bên ký kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại có thể xác định được thời điểm, địa điểm gửi và nhận chứng từ điện tử, hay nói cách khác, thời điểm gửi đề nghị giao kết hợp đồng và nhận được đề nghị giao kết hợp đồng. Điều 11 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP quy định: “1. Thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo. Trong trường hợp chứng từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử.

2. Thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử đó tại một địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra. Thời điểm nhận một chứng từ điện tử ở địa chỉ điện tử khác của người nhận là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ này và người nhận biết rõ chứng từ điện tử đã được gửi tới địa chỉ này.

Người nhận được coi là có thể truy cập được một chứng từ điện tử khi chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử của người nhận.

3. Địa điểm kinh doanh của người khởi tạo được coi là địa điểm gửi chứng từ điện tử và địa điểm kinh doanh của người nhận được coi là địa điểm nhận chứng từ điện tử.

4. Khoản 2 điều này áp dụng trong cả trường hợp khi địa điểm của hệ thống thông tin hỗ trợ địa chỉ điện tử có thể khác với địa điểm chứng từ điện tử được coi là nhận được theo khoản 3 điều này”.

Những quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 nói trên đã chỉ dẫn tương đối cụ thể về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

1.6. Đã ban hành các quy định về chữ ký điện tử

Cuối tháng 3/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg về việc sử dụng chứng từ điện tử trong thanh toán ngân hàng và đưa ra một số quy định liên quan đến chữ ký điện tử như: phải được mã hóa bằng mật mã và được xác lập riêng cho từng cá nhân. Những quy định này nhìn chung còn sơ sài và chỉ áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã dành hẳn chương III với 13 điều khoản quy định về chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử. Điều 21 quy định: “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký”. Đặc biệt đáng chú ý là Luật này quy định điều kiện để bảo đảm an toàn cho chữ ký điện tử (điều 22), giá trị pháp lý của chữ ký điện tử (điều 24), nghĩa vụ của người ký chữ ký điện tử cũng như của người chấp nhận chữ ký điện tử (điều 25 và 26). Với tầm nhìn xa và mang tính thực tiễn cao, Luật cũng quy định cả việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài (điều 27)…

Có thể nói, việc ra đời của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 là một sự cố gắng, một bước đột phá lớn trong việc tạo tiền đề cho quá trình xây dựng khung pháp luật phù hợp cho giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam, đặc biệt là về vấn đề chữ ký điện tử. Tuy vậy, chữ ký điện tử là một vấn đề rất phức tạp, cả về mặt kỹ thuật cũng như về mặt pháp lý. Nó có thể tồn tại ở nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau với những mức độ bảo mật khác nhau. Các quy định về chữ ký điện tử trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 mới chỉ dừng lại ở những nội dung cơ bản nhất.

Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 cũng chỉ quy định một điều khoản về chữ ký điện tử. Cụ thể, điều 10 của Nghị định quy định về giá trị pháp lý của chữ ký điện tử: “Chứng từ điện tử được coi là có chữ ký của một bên nếu: 1. Đã sử dụng một phương pháp để xác nhận được bên ký chứng từ điện tử và xác nhận sự chấp thuận của bên đó đối với thông tin chứa trong chứng từ điện tử được ký.

2. Phương pháp nói trên đủ tin cậy cho mục đích tạo ra và trao đổi chứng từ điện tử xét tới mọi bối cảnh và thỏa thuận liên quan”.

Như vậy, để chữ ký điện tử có giá trị pháp lý ràng buộc người ký nó, ràng buộc các bên giao kết hợp đồng thương mại điện tử, điều quan trọng là bên ký chữ ký điện tử phải sử dụng phương pháp để xác nhận được chữ ký điện tử của mình cũng như xác nhận được sự chấp thuận của bên kia đối với những thông tin chứa trong chứng từ điện tử được ký. Điều này thật không đơn giản. Nó đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ của người ký, của người nhận và cả của cơ quan có thẩm quyền chứng thực chữ ký điện tử.

Mặc dù vậy, những quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 57/2006/NĐ-CP nói trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho giao kết hợp đồng điện tử.

2. Những tồn tại

Thứ nhất, những quy định hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử chưa đầy đủ, chưa cụ thể

Như đã phân tích ở trên, một số văn bản pháp lý đã đề cập đến một vài khía cạnh của thương mại điện tử nhưng chưa đủ cụ thể để điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử. Hoạt động thương mại điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói riêng mang rất nhiều điểm đặc thù, rất khác với các hoạt động thương mại và việc giao kết hợp đồng truyền thống. Vì vậy, ngoài những quy định hàm chứa trong các văn bản pháp luật thương mại và pháp luật về hợp đồng nói chung, cần có những quy định đầy đủ hơn, cụ thể hơn hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 nếu chỉ với 6 điều khoản quy định về giao kết hợp đồng điện tử của Luật này thì trong thực tiễn sẽ rất khó triển khai việc giao kết, thực hiện cũng như giải quyết tranh chấp phát sinh. Có rất nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng điện tử như việc giả mạo chữ ký, hoặc dấu, bằng cách scan để đưa vào hợp đồng điện tử, sẽ được giải quyết như thế nào? Nếu đưa ra trọng tài thì trọng tài không có chức năng điều tra việc giả mạo này. Nếu đưa ra tòa án thì không thể được. Vì sao? Vì theo điều 52 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005, việc giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tử được quy định như sau : “1. Nhà nước khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải quyết thông qua hòa giải; 2. Trong trường hợp các bên không hòa giải được thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Theo quy định của pháp luật nào? Với quy định này, không hiểu cơ quan nào (tòa án hay trọng tài) sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp? Một quy định thật chung chung, mơ hồ và không rõ ràng.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 cũng không quy định rõ sẽ phải giải quyết thế nào nếu bên được đề nghị muốn sửa đổi nội dung đưa ra trong đề nghị giao kết hợp đồng? Thế nào là khoảng thời gian hợp lý để bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng cung cấp cho bên được đề nghị chứng từ điện tử và các chứng từ liên quan khác có chứa nội dung của hợp đồng v.v…

Thứ hai, việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 còn chậm

Mặc dù các cơ quan nhà nước đó cố gắng rất lớn và Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã có hiệu lực từ ngày 01/03/2006 nhưng cho đến tận ngày 09/06/2006 mới chỉ có một Nghị định duy nhất về vấn đề này – Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử– được ban hành. Một loạt các vấn đề về chữ ký điện tử, về cơ quan chứng thực chữ ký điện tử v.v… vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể. Trong khi đó, các doanh nghiệp đang “mỏi mắt chờ luật, chờ cơ quan chứng thực chứng từ điện tử”. Nhiều văn bản hướng dẫn này vẫn trong quá trình soạn thảo. Các doanh nghiệp tham gia thương mại điện tử chưa dám áp dụng một cách hoàn toàn những ứng dụng có thể có của thương mại điện tử hay giao kết các hợp đồng điện tử hoặc nếu có áp dụng họ phải đương đầu với các rủi ro do chưa có các hướng dẫn về giao kết hợp đồng điện tử, về cơ quan chứng thực chữ ký điện tử, về giải quyết tranh chấp, đặc biệt là về những biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể áp dụng khi giao kết hợp đồng điện tử v.v…

Thứ ba, chưa có quy định cụ thể về giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài

Tương tự như với các hợp đồng truyền thống, các văn bản pháp luật hiện hành của các nước và của Việt Nam, khi quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng, đều có những quy định dành riêng cho những hợp đồng được giao kết với các cá nhân và pháp nhân nước ngoài. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã dành Phần thứ bảy của Bộ luật để quy định về những vấn đề dân sự có yếu tố nước ngoài. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng có những quy định về thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (mục 3 chương 1) ; hoặc về mua bán hàng hóa quốc tế (điều 27) và xuất, nhập khẩu hàng hóa (điều 28, điều 29, điều 30, điều 31…). Trong khi đó, cả 8 chương và 54 điều khoản của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 lại đều không có một điều khoản nào về giao dịch điện tử, hoặc hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định chỉ một điều duy nhất về thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài. Đó là điều 27. Điều 27 khoản 1 quy định: “Nhà nước công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài nếu chữ ký điện tử hoặc chứng thư điện tử đó có độ tin cậy tương đương với độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử theo quy định của pháp luật. Việc xác định mức độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài phải căn cứ vào các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các yếu tố có liên quan”.

Vậy thế nào là có độ tin cậy tương đương giữa chữ ký điện tử nước ngoài với chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật? Những tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận về vấn đề này là những tiêu chuẩn nào? Những tiêu chuẩn nào đã được điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã là thành viên công nhận? Hàng loạt những câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có được câu trả lời.

Điều đáng lưu ý hơn nữa là điều 27 khoản 2 nói trên lại khẳng định rằng: “Chính phủ quy định cụ thể về việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài”. Đã gần 4 tháng trôi qua kể từ khi Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có hiệu lực, Chính phủ vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Và do đó, các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam nào muốn giao kết hợp đồng điện tử với đối tác nước ngoài chỉ có một cách duy nhất là CHỜ ĐỢI.

Rõ ràng là điều này thật sự sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi họ giao kết và thực hiện các hợp đồng điện tử với các đối tác ở các nước khác.

Thứ tư, chưa có quy định cụ thể hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử.

Điều mà các chủ thể giao kết hợp đồng điện tử quan tâm là hợp đồng điện tử đã giao kết thì phải được thực hiện đầy đủ. Trong trường hợp có một bên vi phạm thì bên kia phải có cơ chế bảo vệ các quyền lợi của mình. Một trong những cơ chế đó là cơ chế giải quyết tranh chấp về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Đáng tiếc là Luật Giao dịch điện tử năm 2005 còn quy định rất chung, rất sơ sài về vấn đề này: Luật chưa có hướng dẫn cụ thể về phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử; Luật chưa có quy định về các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng điện tử được giao kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài; Luật cũng chưa quy định hoặc chưa có hướng dẫn cụ thể về các chế tài được áp dụng khi có sự vi phạm hợp đồng điện tử, đặc biệt là chưa quy định chế tài đối với hành vi lợi dụng phương thức kinh doanh này để lừa đảo doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng.

Luật Công nghệ thông tin (được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007) có đưa ra ba điều (điều 75, 76, 77) về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm nhưng, những quy định này chỉ hướng dẫn giải quyết tranh chấp về công nghệ thông tin; giải quyết tranh chấp về đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam « .vn ». Luật chưa quy định cụ thể về cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết hợp đồng điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài nói riêng.

Đó là những điểm thiếu sót cơ bản của Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005 nói riêng và khung pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam nói chung. Những thiếu sót này đã làm cho khung pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử kể cả hợp đồng thương mại điện tử của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển thương mại điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, việc hoàn thiện khung pháp luật của Việt Nam về giao kết hợp đồng điện tử là yêu cầu bức xúc và cấp bách./.

Tác giả: GS.TS. Nguyễn Thị Mơ

Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 5/2006

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất