...Thực trạng gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT tại nước ta trong thời gian qua đã làm ngân sách Nhà nước thất thoát hàng trăm tỷ đồng, điều này có nhiều lý do giải thích mà các cơ quan ngôn luận gần đây đã mổ xẻ. Có nhiều nhóm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan dẫn đến hiện tượng này, chẳng hạn như hệ thống pháp luật còn sơ hở, tính thực thi pháp luật chưa nghiêm; trình độ quản lý của các cơ quan có thẩm quyền chưa bắt kịp với sự phát triển nhanh đa dạng của thực tế; về sự thoái hoá, tiếp tay cho việc gian lận thuế của một số cán bộ ngành hải quan, ngành thuế,....
1/ Về việc được khấu trừ thuế GTGT đầu vào tính tỷ lệ % trên giá trị hàng hoá mua vào theo bản kê mua hàng nông lâm thuỷ sản:
Theo Thông tư 106/1999/TT-BTC ngày 30/8/1999 của Bộ tài chính cho phép khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ %, được áp dụng từ 01/9/1999 dựa trên bản kê mua hàng nông lâm thuỷ sản từ 3 – 5%, tuy nhiên Thông tư này quy định không khấu trừ đối với việc mua hàng để làm nguyên liệu sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu hoặc mua để xuất khẩu. Đến Thông tư 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 Bộ tài chính điều chỉnh tỷ lệ khấu trừ và cho phép khấu trừ thuế đầu vào cho cả mua hàng nông lâm thuỷ sản xuất khẩu. Ngày 18/9/2002 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 82/2002/TT-BTC, theo đó từ ngày 1/10/2002 tỷ lệ khấu trừ thuế đầu vào điều chỉnh xuống còn 1%. Xét về chi phí sản xuất, khấu trừ thuế đầu vào trên chứng từ là Bản kê mua hàng làm giảm giá thành hàng nông lâm thuỷ sản, giúp DN tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Như vậy, với mục đích hỗ trợ các DN mua hàng nông lâm thuỷ sản xuất khẩu, và trả lại một phần thuế đầu vào mà DN phải chịu khi mua hàng của nông dân (vì trong giá thành SP nông nghiệp có tính cả thuế GTGT khi mua phân bón, thuốc trừ sâu...). Chính sách này được các DN hoan nghênh, tuy nhiên có 2 vấn đề cần xem xét.
- Các chứng từ là “bản kê mua hàng” thật sự có độ tin cậy cao, làm cơ sở cho việc khấu trừ thuế hay dễ dàng bị gian lận?
- Việc khuyến khích DN xuất khẩu ngành hàng nông, lâm thuỷ sản và hỗ trợ giảm giá thành có nhất thiết là phải khấu trừ thuế GTGT đầu vào tính theo bản kê mua hàng hay có thể dùng các công cụ quản lý khác hữu hiệu hơn?
2/ Khấu trừ thuế đầu vào cho các hoá đơn (HĐ) tính theo thuế GTGT trực tiếp (hoá đơn thông thường):
Cũng theo Thông tư 106/1999/TT-BTC ngày 30/8/1999 của Bộ tài chính, cho phép từ 01/9/1999 khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ % tính theo hoá đơn thông thường là 3% - 5%. Thông tư 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2002 Bộ tài chính điều chỉnh giảm tỷ lệ tính thuế còn tính 1% trên tổng số tiền thanh toán theo hoá đơn, Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/10/2002. Theo chúng tôi, điều này phù hợp với Luật thuế GTGT vì trong giá bán của DN tính thuế GTGT trực tiếp đã có chứa đựng yếu tố thuế GTGT, vì vậy DN tính thuế khấu trừ cần được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào này, tuy nhiên với loại hoá đơn tính thuế GTGT trực tiếp cần quan tâm các vấn đề sau:
- Cơ quan thuế đã thật sự kiểm soát được việc các cơ sở tính thuế GTGT trực tiếp mua và sử dụng HĐ này?
- Có bao nhiêu HĐ loại này được mua bán bất hợp pháp, trôi nổi?
- Có khuyến khích DN tính thuế GTGT trực tiếp hay không?
3/ Thuế suất thuế GTGT đầu vào cao hơn đầu ra:
Một số ngành có thuế suất nguyên vật liệu, linh kiện để lắp ráp sản phẩm với thuế suất cao, sản phẩm hoàn thành bán ra với thuế suất thấp, chẳng hạn năm 2000, 2001 linh kiện máy vi tính có thuế suất 10% và máy vi tính được lắp ráp trong nước khi bán ra còn thuế suất 5%, dẫn đến doanh nghiệp (DN) luôn trong tình trạng thuế đầu vào luỹ kế âm và được hoàn thuế. Mục tiêu của chính sách này là khuyến khích một số ngành hàng phát triển thay thế hàng ngoại nhập, tuy nhiên nên xem xét lại các trở ngại sau:
- Cơ quan thuế phải tốn rất nhiều nhân lực, thời gian và chi phí để hành thu thuế GTGT để không bỏ sót, sau đó lại tốn kém như vậy để hoàn thuế GTGT đầu vào âm liên tục cho DN. Cuối cùng ngân sách cũng chỉ thu được số thuế đầu ra với thuế suất thấp hơn thuế đầu vào mà DN đóng góp theo quy định. Vậy có nên duy trì 2 tỷ lệ thuế suất, thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra hay chỉ nên một thuế suất bằng thuế đầu ra và sử dụng giải pháp khác để khuyến khích ngành nghề phát triển? Trong khi đó DN sản xuất, lắp ráp khi mua nguyên vật liệu, linh kiện phải nộp thuế đầu vào với thuế suất cao, sau đó bán ra với thuế suất thấp, rồi xin hoàn thuế với thời gian trên 3 tháng, như vậy gây khó khăn thiếu vốn ở các DN, và DN phải đi vay rồi trả lãi vay, chi phí gián tiếp tăng, làm giảm lợi thế cạnh tranh của DN. Có lẽ DN sẽ thích thuế đầu ra bằng thuế đầu vào để khỏi phải kẹt vốn và xin hoàn thuế GTGT.
- Một số DN làm ăn không chân chính có thể lợi dụng sự chênh lệch thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra để mua hoá đơn nhập hàng khống, nhưng không có hàng thật nhập kho hoặc chỉ một ít hàng nhập kho có thật cho việc kinh doanh tại DN, kết quả Dn được hoàn thuế đầu vào rất lớn vừa có thật trong kinh doanh lại vừa có gian lận, điều này các cơ quan quản lý tài chính có thật sự kiểm soát được không?
- Một số DN khi nhập hàng linh kiện, phụ tùng thay thế với thuế GTGT đầu vào cao, khi bán cho người tiêu dùng cá nhân cũng bằng linh kiện, phụ tùng thay thế, mặc dù người tiêu dùng không lấy hoá đơn nhưng DN vẫn phải xuất ra để cân đối hàng tồn kho. Nhưng để trốn thuế GTGT đầu ra, kế toán sẽ xuất hoá đơn theo dạng bán máy bộ, thành phẩm lắp ráp với thuế suất thấp, có cơ quan nào đủ thông tin để kiểm soát được điều gian lận chênh lệch thuế này?
4/ Việc nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu cho cơ quan hải quan theo tờ khai hàng nhập khẩu sau đó khấu trừ, hoàn thuế tại cơ quan thuế cũng có các trở ngại sau:
- Nếu DN thiếu vốn thì phải đi vay để nộp thuế GTGT, DN phải trả lãi tiền vay dẫn đến làm tăng chi phí gián tiếp nhập hàng, làm giảm lợi thế cạnh tranh của DN.
- Cuối tháng DN vẫn được phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào hàng nhập khẩu, giả sử DN có thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra do thuế suất đầu vào thường xuyên lớn hơn đầu ra,... thì hơn 3 tháng 15 ngày sau mới được hoàn thuế (nếu tính đúng luật hồ sơ hoàn thuế trong sạch được hoàn ngay, nếu trở ngại thì còn lâu hơn).
- Ngành Hải quan phải tốn kém nhân sự, tiền bạc, thời gian để thu thuế GTGT hàng nhập khẩu cho đúng, đủ, sau đó ngành thuế phải tốn kém tiền bạc và nhân lực như thế để xét duyệt lại hồ sơ khấu trừ và hoàn thuế, như vậy vừa lãng phí tiền ngân sách cho việc tổ chức hành thu và cả xét duyệt khấu trừ, hoàn thuế nhưng không hề tăng thu, có nên chăng?
Từ sự phân tích 4 nguyên nhân chủ yếu trong chuyên môn nói trên, chúng tôi rút ra các kết luận cơ bản là:
1. Cố gắng triệt tiêu những trường hợp hoàn thuế GTGT đầu vào luỹ kế âm nếu có thể thay thế bằng các biện pháp hỗ trợ khác hữu hiệu hơn. Bản chất của thuế GTGT là thu thuế trên giá trị tăng thêm của hàng hoá sản phẩm, không thu chồng chéo bất công bằng, chứ không phải là công cụ khuyến khích xuất khẩu hay phát triển ngành nghề. Một khi số ít DN có ý đồ gian lận thuế không còn cơ hội hoàn thuế GTGT đầu vào thì không còn nguyên nhân sinh ra gian lận hoàn thuế hoặc lập ra các DN ma nhằm gian lận hoàn thuế. Còn thuế GTGT đầu vào nằm trong số khấu trừ thì cơ quan thuế có đủ thời gian đối chiếu kiểm tra, xác minh HĐ đó đã kê khai đầu vào chưa? Số liệu có khớp với đầu ra hay không, khi đó có cơ sở xử lý các DN gian lận khấu trừ thuế.
2. Những trường hợp phải hoàn thuế GTGT đầu vào như DN trong quá trình xây dựng cơ bản, thành lập DN... thì hồ sơ phải đầy đủ chứng từ hợp pháp và chọn mẫu kiểm tra nhanh và hoàn thuế cho DN trước, hậu kiểm sau. Đây là một trong các biện pháp nuôi nguồn thu cho ngân sách vì DN phát triển thì số thuế sẽ thu được nhiều hơn trong tương lai. Không vì sự gian lận thuế của một ít DN làm ăn không chân chính mà chậm hoàn thuế GTGT, gây khó khăn tài chính, kẹt vốn cho phần lớn DN làm ăn chân chính theo luật.
NHỮNG GIẢI PHÁP
Để khắc phục sự gian lận trong khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT nói trên, chúng tôi đề ra một số giải pháp triệt tiêu nguyên nhân làm thuế GTGT đầu vào lớn hơn đầu ra ở một số trường hợp không được hợp lý như sau:
1. Bỏ hẳn việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào dựa trên chứng từ là “Bảng kê mua hàng” nông lâm thuỷ sản, phế liệu. Điều này Bộ tài chính đã ra Thông tư 102/2002 BTC ngày 11/11/2002 chính thức bỏ khấu trừ thuế đầu vào không dựa trên “Bảng kê mua hàng” nông lâm thuỷ sản.
2. Đối với HĐ tính thuế GTGT trực tiếp (HĐ thông thường) mà hiện nay DN được tính thuế GTGT khấu trừ mua hàng nhập kho 1% thì cũng có thể bỏ luôn không cho khấu trừ nữa.
3. Đối với từng ngành hàng SXKD khuyến khích phát triển thì nên quy định một thuế suất GTGT cho đầu vào và cả đầu ra với thuế suất thấp, nhằm triệt tiêu nguyên nhân gian lận chênh lệch thuế và tiêu cực trong việc xét hoàn thuế, giảm được chi phí rất lớn cho ngân sách về việc hành thu và xét hoàn thuế.
4. Đối với thuế GTGT hàng nhập khẩu thì cho phép thời gian nộp thuế kéo dài 30 ngày và được nộp tại cơ quan thuế thay thế vì nộp ở Hải Quan, giải pháp này nhằm giúp DN cuối tháng khấu trừ thuế, tránh cho DN tăng các chi phí gián tiếp khi nhập hàng như lãi phải trả tiền vay để nộp thuế GTGT, tránh lãng phí tiền ngân sách khi xét hành thu ở cơ quan Hải quan và sau đó cơ quan thuế xét khấu trừ, hoàn thuế.
5. Khi bỏ phần lớn các trường hợp hoàn thuế GTGT đầu vào, thìh Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ những người SX trực tiếp hàng nông lâm thuỷ sản giảm chi phí SX như xét bỏ thuế nông nghiệp, cho vay ưu đãi, đồng thời xét thưởng xuất khẩu, giảm thuế thu nhập DN đối với các DN mua hàng nông lâm thuỷ sản xuất khẩu. Tiếp tục khuyến khích các DN này thanh toán qua ngân hàng như một chứng từ cần thiết để xét thưởng và giảm thuế TNDN.
6. Xử lý nghiêm khắc những hành vi gian lận thuế đối với DN làm ăn không chân chính và cả những cán bộ Nhà nước tiếp tay, tham gia gian lận thuế.
Trên đây là một số ý kiến tham khảo và không thể không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong quý vị góp ý thêm.
TS.Hà Xuân Thạch – Khoa kế toán - kiểm toán – ĐH Kinh tế TP.HCM
Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Gian lận trong khấu trừ thuế, hoàn thuế và hướng hoàn thiện thuế GTGT trong tiến trình hội nhập AFTA (CEPT)” – Tháng 1/2003