Trợ giúp pháp lý - quan niệm và mô hình ở một số nước trên thế giới
20:51' 23/6/2010
Chế độ trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại trợ giúp tư pháp được đại đa số các nước trên thế giới áp dụng (khoảng 150 nước). Nó là kết quả tất yếu của sự phát triển trong xã hội, là công cụ để nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân của mình. Nhà nước ban hành pháp luật, buộc người dân phải tuân theo, do vậy nhà nước cũng phải bảo đảm để pháp luật bảo vệ được quyền lợi của nhân dân. Nếu không làm được điều này, tất yếu sự hoài nghi của công chúng đối với pháp luật sẽ nảy sinh và đó sẽ là nguy cơ lớn đối với khả năng thực thi pháp luật.

1. Sự cần thiết phải trợ giúp pháp lý

Chế độ trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại trợ giúp tư pháp được đại đa số các nước trên thế giới áp dụng (khoảng 150 nước). Nó là kết quả tất yếu của sự phát triển trong xã hội, là công cụ để nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân của mình. Nhà nước ban hành pháp luật, buộc người dân phải tuân theo, do vậy nhà nước cũng phải bảo đảm để pháp luật bảo vệ được quyền lợi của nhân dân. Nếu không làm được điều này, tất yếu sự hoài nghi của công chúng đối với pháp luật sẽ nảy sinh và đó sẽ là nguy cơ lớn đối với khả năng thực thi pháp luật.

Hệ thống pháp luật ngày càng nhiều và mức độ phức tạp ngày càng tăng, ngay cả người được đào tạo về pháp luật đôi khi cũng không hiểu hết các quy định của pháp luật và khi có vướng mắc pháp luật hay phải đứng trước toà án cũng không chắc chắn có thể bảo vệ thành công quyền lợi của mình. Do đó, một công dân không có kiến thức pháp luật và không có kỹ năng thì dù không phạm tội cũng không thể chứng minh được sự vô tội của mình.

Nhiều cuộc tranh luận trên thế giới đã đi đến sự khẳng định rằng, TGPL là cần thiết. Nó cần thiết đối với việc củng cố luật pháp, với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và có tầm quan trọng như một bộ phận không thể tách rời của việc thực thi công lý và cũng cần thiết như một bộ phận không thể thiếu trong quá trình xét xử.

Năm 1959,  Đại hội với chủ đề “Trật tự luật pháp trong một xã hội tự do” do Uỷ ban tư pháp quốc tế  tổ chức ở New Delhi đã khẳng định: “Việc tiếp cận luật pháp của người giàu cũng như của người nghèo là cần thiết đối với việc duy trì trật tự pháp luật, do đó, cần phải tư vấn và đại diện pháp lý phù hợp cho những người mà cuộc sống, tài sản, tự do, danh dự bị đe doạ nhưng không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý …".

Sẽ là rất vô nghĩa nếu quyền được bào chữa chỉ áp dụng đối với người có khả năng trả chi phí dịch vụ. Vì vậy, việc khẳng định vị trí của TGPL là một yêu cầu mang tính thủ tục cần thiết để bổ sung ý nghĩa cho nhà nước pháp quyền. Nếu thừa nhận trật tự xã hội trong nhà nước pháp quyền là một mục tiêu cần hướng tới thì việc thừa nhận TGPL rất quan trọng, có thể coi như một phương tiện để đạt được mục tiêu ấy.

2. Quan niệm về trợ giúp pháp lý của một số nước trên thế giới

Nước Đức quan niệm "TGPL là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án".

Điều 5 Luật TGPL năm 1997 của bang Queensland (Úc) quy định "TGPL có nghĩa là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng với mức thấp hơn so với giá trị thực tế của dịch vụ".

Theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì TGPL là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý.

Đạo luật TGPL năm 1995 của Singapore định nghĩa "TGPL là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho dịch vụ pháp lý".

Nhìn dưới góc độ mục đích của hoạt động TGPL, pháp luật TGPL của Úc định nghĩa "TGPL là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận pháp luật, tức là tạo ra được sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật".

3. Mô hình trợ giúp pháp lý một số nước trên thế giới

Tổ chức và hoạt động TGPL trên thế giới rất phong phú và đa dạng tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước. Trên thế giới hiện nay tồn tại ba mô hình tổ chức TGPL phổ biến, đó là:

a.  Mô hình từ thiện:

Đây là mô hình sơ khai nhất, hình thành sớm nhất vào giữa thế kỷ 19 ở Đức, Hà Lan, Anh và sau này phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo mô hình này, hoạt động TGPL chủ yếu do các luật sư tư hành nghề tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc, mang tính chất từ thiện. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới đều kết hợp duy trì mô hình này cùng với các hình thức khác, nhưng có tính tổ chức hơn và được pháp luật quy định.

Mô hình này có những đặc điểm sau:

- Hoạt động TGPL mang tính tự phát, thể hiện ở chỗ hoạt động giúp đỡ xuất phát từ ý chí của mỗi luật sư, do luật sư hành nghề tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật;

- Phụ thuộc vào lòng từ thiện của luật sư và các tổ chức tư vấn, vì vậy nó mang tính nhân đạo;

- Hoàn toàn miễn phí;

- Phần lớn các vụ việc tư vấn đều do luật sư trẻ, luật sư tập sự, chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện.

b. Mô hình luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách nhà nước

Đặc điểm chung của mô hình này là hoạt động TGPL được thực hiện miễn phí, toàn bộ chi phí cho hoạt động TGPL do ngân sách nhà nước cấp; đội ngũ luật sư nhà nước và luật sư tư thực hiện TGPL được nhà nước trả lương cố định, mà không hưởng lương theo vụ việc; đương sự không được lựa chọn luật sư do tổ chức TGPL cử; số vụ việc trợ giúp hạn chế vì các vụ việc được trợ giúp hoàn toàn miễn phí, nhà nước phải đảm trách một lượng kinh phí tương đối lớn cho hoạt động này, do đó vào những thời điểm phát sinh nhiều nhu cầu TGPL của nhân dân mà ngân sách nhà nước lại hạn chế thì không bảo đảm đáp ứng nhu cầu trợ giúp. Ưu điểm nổi bật:

- Tiết kiệm chi phí cho nhà nước: luật sư nhà nước được tuyển dụng vào tổ chức TGPL và là công chức nhà nước, được trả lương cố định hàng tháng, hưởng các chế độ của một công chức và chịu sự điều chỉnh của các quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhất định. Chi phí mà nhà nước đầu tư để duy trì và phát triển đội ngũ luật sư nhà nước là tương đối cố định, bản thân các luật sư nhà nước không tự ý nâng chi phí lên.

Hơn nữa, có một loại chi phí ẩn tồn tại trong hệ thống bào chữa tư (luật sư chỉ định), đó là chi phí cho việc thẩm định tính xác thực của các chứng từ mà luật sư đưa ra. Với mô hình bào chữa công, thì Nhà nước không phải trả những chi phí này.  (Xem hộp 1).

 

Hộp 1

Văn phòng bào chữa công đầu tiên được thành lập vào năm 1992 ở Johannesburg (Nam Phi) đã khẳng định, chỉ trong 3 năm, văn phòng này có thể cung cấp TGPL với mức chi phí cho từng vụ việc thấp hơn khi so sánh với các luật sư chỉ định. Chẳng hạn, chi phí cho một vụ việc hình sự do các luật sư chỉ định thực hiện là là 822 rand, trong khi chi phí cho một vụ việc do người bào chữa công thực hiện chỉ là 555 rand. Việc làm thí điểm này đã dẫn đến kết quả là, khi chuyển đổi từ mô hình TGPL hiện hành đến luật sư nhà nước sẽ tiết kiệm được đáng kể chi phí. Chẳng hạn như trong năm 2001 - 2002, chi phí trung bình cho một vụ việc trong khuôn khổ hệ thống tư pháp là 1.221 rand, trong khi con số này của luật sư nhà nước là 546 rand.

 

- Tạo ra môi trường cạnh tranh giữa luật sư nhà nước và luật sư tư: Khi trong xã hội tồn tại song song hai hệ thống cung cấp dịch vụ pháp lý khác nhau thì tất nhiên sẽ có sự cạnh tranh, mỗi hệ thống phải luôn nỗ lực và cải cách để thể hiện những ưu điểm của mình. Và như vậy, vô hình trung, những người không phải là đối tượng TGPL miễn phí của nhà nước cũng sẽ được hưởng lợi từ việc luật sư tư nâng cao chất lượng dịch vụ của mình. Về phía luật sư nhà nước, họ được tuyển dụng làm công chức nhà nước, hưởng lương và các chế độ phúc lợi của nhà nước, một mặt, các luật sư này chịu sự điều chỉnh của pháp luật về cán bộ, công chức, chịu trách nhiệm đối với chất lượng trợ giúp của mình, mặt khác, họ phải tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nghề luật sư. Do vậy, họ phải có ý thức về trách nhiệm công việc của mình và phải thường xuyên nâng cao nghiệp vụ,  

- Tiết kiệm nguồn nhân lực đối với công tác quản lý luật sư, theo dõi hoạt động của các luật sư, kiểm tra tính xác thực của những chứng từ mà luật sư được thuê thực hiện vụ việc. 

(Xem hộp 2)

 

 

 

 

  Trên thế giới, nhiều nước đã áp dụng mô hình luật sư nhà nước như: Philippines, Israel, Hàn Quốc, bang New South Wales, Queensland (Úc), Mỹ, Anh, Litva, New Zealand, Thụy Điển...

Ở Lítva

Lítva bắt đầu thí điểm mô hình luật sư nhà nước vào năm 1999. Mô hình đã thể hiện được những tính ưu việt nhất định và góp phần khắc phục những hạn chế của hệ thống tư pháp hiện tại. Mô hình này được bắt đầu với dự án thành lập thí điểm một văn phòng luật sư nhà nước, tuyển dụng những luật sư làm việc thường xuyên để bào chữa trong những vụ án bắt buộc phải có luật sư. Việc làm này không giống với văn hoá pháp lý ở Litva, do đó đã gặp phải sự phản kháng của nhiều cơ quan. Tuy nhiên, dự án lại nhận được sự ủng hộ tích cực của các quan chức cao cấp của Bộ Tư pháp và thành viên của Đoàn luật sư. Cuối năm 1999, Litva đã chấp nhận mô hình luật sư nhà nước.

Luật sư của văn phòng bào chữa công được trả lương theo giờ, tương đương với luật sư chỉ định, cộng với một khoản thù lao phụ do Chương trình sáng kiến tư pháp (Quỹ xã hội Mở) trả giúp, nên thu nhập của họ tăng khoảng 50% (thu nhập cố định hàng tháng của luật sư của văn phòng lên đến 3000 litas và 3600 litas cho người quản lý). Luật sư cũng được nhận bảo hiểm khám chữa bệnh miễn phí, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, là thành viên của đoàn luật sư, được tập huấn và nghỉ  phép 4 tuần /năm.

Ở Anh

Từ năm 1998, cùng với việc đổi mới hoạt động tư pháp, Chính phủ Anh đã thành lập một đội ngũ luật sư nhà nước trực tiếp thực hiện các hoạt động bào chữa hình sự. Đặc biệt,  Luật Tiếp cận công lý năm 1999 đã quy định rõ các tính chất của hoạt động bào chữa công ở Anh. Theo quy định của đạo luật này, một Uỷ ban dịch vụ pháp lý đã được thành lập. Uỷ ban này trực tiếp tuyển dụng các luật sư công và trả lương cho họ. Uỷ ban có trách nhiệm cung cấp TGPL và các tổ chức trợ giúp hình sự tư nhân phải ký hợp đồng với Uỷ ban để thực hiện hoạt động theo hình thức này.

Khi xem xét thành lập hệ thống tổ chức bào chữa công, Chính phủ Anh đã nghiên cứu hoạt động bào chữa công tại các nước Bắc Mỹ (bao gồm Canada, Hoa Kỳ) và châu Âu. Kết quả cho thấy nơi nào có cơ quan bào chữa công hoạt động tốt thì cũng là nơi các nhà hỗ trợ tư nhân hoạt động có hiệu quả cao.

Ở Israel

Dự án thành lập văn phòng luật sư nhà nước bắt đầu với một số hoạt động vào đầu những năm 1980 và có ảnh hưởng sâu rộng vào đầu những năm 1990. Văn phòng luật sư nhà nước được chính thức thành lập vào năm 1995 theo Luật về luật sư nhà nước. Trước khi thành lập văn phòng luật sư nhà nước, dưới 20% người bị giam giữ trước khi xét xử và khoảng 30% bị cáo trước toà có luật sư đại diện. Ngày nay, trung bình có 70% người bị giam giữ trước khi xét xử và gần 60% bị cáo trong tố tụng hình sự được luật sư đại diện TGPL.

 

 

c. Mô hình hỗn hợp

 Là mô hình kết hợp giữa hoạt động TGPL do tổ chức TGPL của nhà nước (luật sư nhà nước) thực hiện và do tổ chức luật sư tư thực hiện, được nhà nước tài trợ hoặc do các luật sư tư thực hiện trên cơ sở tự nguyện (mang tính từ thiện), nhưng được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện.

Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước như: Anh, Nhật, Hà Lan, Úc, Nam Phi, Thụy Điển...

Mô hình này có đặc điểm sau:

- Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí cho các tổ chức phi chính phủ để giúp đỡ cho các đối tượng được trợ giúp miễn phí;

- Được thu một phần chi phí của đối tượng, nghĩa là đối tượng phải nộp một phần chi phí trợ giúp khoảng 10 - 20 hoặc 30% chi phí, tuỳ theo điều kiện của đối tượng;

- Trợ giúp nhiều loại vụ việc khác nhau;

- Đối tượng được tự do lựa chọn luật sư theo nguyện vọng.

Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đang áp dụng mô hình này. Tuy nhiên, dù theo bất kỳ mô hình nào, ở bất cứ nước nào thì bản chất của TGPL vẫn là một loại nghề nghiệp đặc biệt mang tính nhân đạo và từ thiện: "giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi phí tiếp cận công lý".

 4. Người thực hiện trợ giúp pháp lý 

Tuỳ thuộc điều kiện kinh tế, xã hội, đặc điểm mà mỗi mô hình có các chức danh người thực hiện TGPL khác nhau. Theo đó, chức năng, nhiệm vụ của mỗi người cũng khác nhau.

Ở Hàn Quốc, đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý gồm:

- Uỷ viên TGPL: Điều 20 Đạo luật TGPL Hàn Quốc quy định Cục trưởng Cục TGPL có thể chỉ định một trong số các luật sư làm uỷ viên Uỷ ban TGPL để phụ trách các việc đại diện, bào chữa. Uỷ viên này chỉ thực hiện TGPL khi tất cả các luật sư đều bận hoặc không có luật sư.

- Luật sư nhà nước do tổ chức TGPL tuyển dụng: Năm 2001, Cục Trợ giúp pháp lý có 25 luật sư được tuyển dụng để làm công tác TGPL.

- Luật sư chỉ định: Đây là những người được Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định thực hiện TGPL nhưng không phải là luật sư mà chỉ là người am hiểu pháp luật. Đối tượng này không cần đăng ký hành nghề luật sư nhưng khi thực hiện TGPL phải tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ của luật sư.

Tại bang Queensland (Úc), nhiệm vụ TGPL được giao cho luật sư TGPL và các đại lý TGPL.

Ở Phillippine, người thực hiện TGPL bao gồm luật sư nhà nước là thành viên của các Văn phòng luật sư nhà nước, luật sư tư, luật sư thuộc các tổ chức TGPL phi chính phủ.

 

Phan Thị Thu Hà
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 71, tháng 5/2006

Các tin tiếp
Các tin trước