Việc xây dựng Luật Phòng, chống ma túy của mỗi nước có cơ sở, nền tảng chung là các Công ước quốc tế về kiểm soát ma túy (Công ước năm 1961, 1971 và 1988) và hiện nay đã có trên 140 nước tham gia các Công ước này. Một trong những nguyên tắc chung của Công ước quốc tế về kiểm soát ma túy là các nước tham gia phải cụ thể hóa quy định của các Công ước quốc tế trong hệ thống pháp luật phòng, chống ma túy của nước mình, đảm bảo tính đồng bộ giữa Công ước quốc tế và pháp luật của mỗi nước.
Thực hiện nguyên tắc đó, hầu hết các nước tham gia Công ước quốc tế về kiểm soát ma túy đều có những văn bản pháp luật về phòng, chống ma túy.
- Về hình thức văn bản: Hiện nay, đa số các nước đã ban hành Luật Phòng, chống ma túy (Trung Quốc là nước có trên một triệu người nghiện ma túy, năm 1972 chỉ ban hành Pháp lệnh về Kiểm soát ma túy nhưng đến năm 2007 đã ban hành Luật Phòng, chống ma túy), một số nước khác đã ban hành Pháp lệnh, hoặc ban hành Nghị định hay Quyết định của Thủ tướng Chính phủ..
- Về thời gian ban hành: Nhiều nước ban hành pháp luật về kiểm soát ma túy từ rất sớm như Nhật Bản (năm 1953), Thụy Điển (năm 1962). Luật Phòng, chống ma túy ở một số nước được sửa đổi, bổ sung nhiều lần như Thái Lan (ba lần), Myanmar (ba lần), đặc biệt là Nhật Bản từ năm 1953 đến nay đã qua 32 lần sửa đổi, bổ sung.
- Về phạm vi điều chỉnh: Phạm vi điều chỉnh của Luật về Phòng, chống ma túy của các nước rất đa dạng: Có nước ban hành Luật Phòng, chống ma túy về một lĩnh vực như phòng, chống tội phạm hoặc cai nghiện phục hồi; có nước ban hành đồng thời hai đến ba luật về phòng, chống ma túy như Luật về trừng trị các tội phạm liên quan đến ma túy, Luật về kiểm soát các hoạt động xuất, nhập, mua bán, tàng trữ, sử dụng hợp pháp các chất ma túy, Luật về cai nghiện phục hồi. Một số nước ban hành luật quy định về hoạt động điều tra tội phạm liên quan đến ma túy. Song hiện nay, phổ biến các nước đều ban hành một đạo luật về phòng, chống ma túy, trong đó gồm nhiều chương quy định về những vấn đề cơ bản về công tác phòng, chống ma túy, như: những nguyên tắc chung, giải thích từ ngữ, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; phòng, chống tội phạm về ma túy, quản lý các chất ma túy, tiền chất cai nghiện phục hồi, tội phạm và hình phạt; một số nước quy định thủ tục điều tra tội phạm về ma túy, tổ chức và nhiệm vụ của ủy ban Quốc gia phòng, chống ma túy; trách nhiệm các bộ và chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức và công dân trong công tác phòng, chống ma túy. Theo mô hình này, có nước dành nhiều điều, nhiều chương quy định các biện pháp phòng ngừa, tuyên truyền giáo dục phòng, chống ma túy (Trung Quốc, Nhật Bản), có nước nhấn mạnh hoat động phòng, chống tội phạm về ma túy, có nước quan tâm quy định về quản lý lưu thông, tàng trữ, sử dụng hợp pháp các chất ma túy, trồng hợp pháp cây có chất ma túy.
Về nội dung cụ thể: Luật Phòng, chống ma túy các nước cơ bản đều tuân thủ những nguyên tắc chung của Công ước quốc tế về kiểm soát ma túy trong quy định tội phạm và hình phạt, quản lý việc sử dung hợp pháp các chất ma túy, tiền chất. Song, do đặc điểm điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các nước khác nhau nên Luật Phòng, chống ma túy cũng có sự khác nhau trong quy định tội phạm về ma túy, quản lý việc trồng cây có chất ma túy, tổ chức cai nghiện ma túy.
- Về quy định tội phạm trong Luật Phòng, chống ma túy: có nước quy định hai tội, có nước quy định bốn tội, có nước quy định 6 đến 10 tội, có nước quy định 16 tội cụ thể liên quan đến sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, trồng trái phép cây có chất ma túy, lợi dụng quyền hạn trong khi thi hành công vụ để chiếm đoạt trái phép chất ma túy. Điều đáng lưu ý là rất ít nước quy định sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm. Để xử lý hành vi nghiện ma túy nghiêm trọng, kéo dài, cai nghiện ít hiệu quả, có nước quy định bắt buộc cai nghiện là một hình phạt bổ sung do tòa án quyết định khi xét xử các tội phạm về ma túy, có nước quy định “người nào sử dụng trái phép chất ma túy mà không khai báo với cơ quan công an hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền thì bị tù từ sáu tháng đến ba năm” (Điều 78 Luật Phòng, chống ma túy năm 1993 của Myanma).
- Về xử lý việc trồng cây có chất ma túy: Đa số các nước quy định cấm trồng trái phép cây có chất ma túy và quy định việc trồng trái phép cây có chất ma túy là phạm tội, song quy định quản lý việc trồng cây có chất ma túy rất mềm dẻo và linh hoạt. Tinh thần chung của Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961 của Liên hiệp quốc là tùy điều kiện của mỗi nước có thể cho phép trồng cây có chất ma túy phục vụ nhu cầu chữa bệnh, công nghiệp dệt và làm vườn, song phải có sự quản lý chặt chẽ, không để lợi dụng để sản xuất trái phép chất ma túy. Vì vậy, Luật Phòng, chống ma túy của nhiều nước quy định cho phép trồng cây thuốc phiện, trồng cây cần sa, cây côca, một số loại cây khác có chất ma túy phục vụ nhu cầu về y tế, dệt vải, sử dụng trong các lễ hội truyền thống của dân tộc, song việc trồng các loại cây đó có sự quản lý kiểm soát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền về vị trí, diện tích trồng, bảo quản, tàng trữ, sử dụng sản phẩn, kể cả việc sử dụng sản phẩm rất ít có chất ma túy như thân, cành của các loại cây đó.
- Về quản lýV, sử dụng hợp pháp chất ma túy: Vấn đề cho phép sử dụng hợp pháp chất ma túy được nêu trong nhiều cuộc hội thảo quốc tế và khu vực. Trên thực tế, ở một số nước có tồn tại hình thức cho phép trồng cần sa trong nhà, một số người có giấy phép của cơ quan y tế được đến hút cần sa trong nhà, không được mua và vận chuyển đi nơi khác; cho phép đến một khu phố để chích ma túy, có sự cung cấp bơm kim tiêm sạch dưới sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền; cho phép sử dụng chất gây nghiện trong ngày lễ hội truyền thống của dân tộc. Song, trong Luật Phòng, chống ma túy của các nước chưa thấy nước nào quy định cho phép người nghiện sử dụng hợp pháp chất ma túy, mà thường quy định cho phép cơ quan y tế hoặc nhân viên cơ quan y tế có thẩm quyền được kê đơn thuốc hoặc sử dụng thuốc có chất ma túy cho người bệnh; một số cửa hàng dược được phép bán thuốc có chất ma túy cho người bệnh theo đơn của bác sĩ; một số người bệnh được phép sử dụng thuốc có chất ma túy để chữa bệnh nhưng phải theo đúng quy định của cơ quan y tế và hướng dẫn của thầy thuốc.
- Về tổ chức cai nghiện ma túy: Đây là một vấn đề được nhiều nước quan tâm quy định đậm nét trong Luật Phòng, chống ma túy. Hầu hết Luật Phòng, chống ma túy của các nước có một chương riêng về công tác cai nghiện, nhiều nước có một luật riêng hoặc một Nghị định của Chính phủ về cai nghiện phục hồi.
Hiện nay, pháp luật các nước có thái độ ứng xử khác nhau đối với người nghiện ma túy và biện pháp tổ chức cai nghiện cũng khác nhau. Một số nước cho rằng, nghiện ma túy cũng là một loại bệnh, nên thái độ đối xử với người nghiện ma túy giống như một bệnh nhân, việc tổ chức cai nghiện ma túy chủ yếu là do cơ quan y tế đảm nhiệm. Một số nước coi nghiện ma túy là hành vi phạm pháp (sử dụng trái phép chất ma túy) nên các biện pháp tổ chức cai nghiện thường gắn liền với các biện pháp mang tính cưỡng chế về hành chính. Một số nước dùng quyết định của Toà án. Có nước giao cho lực lượng cảnh sát trực tiếp tổ chức cai nghiện.
Đa số các nước quy định thời gian cai nghiện theo ba giai đoạn: cai nghiện tại cộng đồng, cai nghiện bắt buộc tại trung tâm và sau đó tiếp tục quản lý, giáo dục phòng, chống tái nghiện tại cộng đồng. Pháp luật quy định rất mềm dẻo giao cho địa phương chủ động áp dụng, không nhất thiết phải qua cai nghiện tại cộng đồng mới đưa vào cai nghiện bắt buộc tại trung tâm.
Luật Phòng, chống ma túy của Trung Quốc ban hành ngày 29/12/2007, có hiệu lực từ 1/6/2008 quy định thời gian cai nghiện tại cộng đồng là ba năm, nếu không hiệu quả hoặc vi phạm quy chế cai nghiện tại cộng đồng thì đưa vào cai nghiện bắt buộc tối đa hai năm (qua một năm nếu thấy kết quả cai nghiện tốt có thể cho về trước thời hạn). Sau khi hết thời hạn cai nghiện tập trung, người nghiện được quản lý, giáo dục tại cộng đồng tối đa là ba năm. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng, nếu sử dụng lại chất ma túy thì lại đưa trở lại trung tâm cai nghiện bắt buộc.
Luật Phòng, chống ma túy của Nhật Bản ban hành năm 2004 tại Điều 58-9 quy định: “Thời gian điều trị tại bệnh viện có thể được phép gia hạn mỗi lần không quá hai tháng, nhưng tổng thời gian không được quá sáu tháng tính từ ngày bắt đầu nhập viện cho người nghiện”.
Luật về Phục hồi đối với người nghiện ma túy của Thái Lan ban hành năm 2002, quy định thời gian cai nghiện phục hồi là sáu tháng “Trường hợp cai nghiện phục hồi không đạt kết quả có thể xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn không quá sáu tháng và tổng cộng các lần gia hạn đó không quá ba năm kể từ ngày chuyển người đó vào trung tâm để phục hồi”.
Luật về Các chất ma túy và các chất hướng thần của Liên bang Myanma (1993) quy định: Người sử dụng ma túy phải đăng ký với cơ quan y tế và phải tuân thủ quy định của Bộ Y tế về chữa trị. Sau thời gian chữa trị, người sử dụng ma túy được bố trí tái định cư và chăm sóc, điều trị tại cộng đồng. Điều 15 quy định: “Người nào dùng ma túy mà không đăng ký tại nơi do Bộ Y tế quy định nhằm mục đích chữa trị hoặc không tuân thủ các quy định của Bộ Y tế về chữa trị thì bị phạt tù từ hai đến năm năm.”
Luật Phòng, chống ma túy của Indonesia (năm1997) quy định người nghiện ma túy phải khai báo tình trạng nghiện và thực hiện các quy định về cai nghiện phục hồi; nếu phạm tội thì bị bắt buộc cai nghiện theo quyết định của Tòa án, thời gian cai nghiện được coi như thời gian chấp hành án phạt tù (Điều 47).
Luật về Kiểm soát ma túy của Cămpuchia (năm 1994) tập trung quy định tội phạm và hình phạt, các biện pháp điều tra tội phạm, trong đó người nghiện ma túy có trách nhiệm tự nguyện đến bệnh viện, trạm xá hoặc một cơ sở chuyên môn để điều trị. Người tự nguyện cai nghiện được nhà nước giữ bí mật và chi trả kinh phí điều trị; nếu người nghiện có yêu cầu thì được cấp giấy chứng nhận nội dung và thời gian điều trị (Điều 89). Người sử dụng ma túy trái phép không tự nguyện cai nghiện thì bị phạt tù từ sáu ngày đến một tháng (Điều 98). Luật này chưa quy định hình thức cai nghiện bắt buộc.
Luật Kiểm soát ma túy của Canađa (năm1992) quy định việc xử lý đối với người nghiện ma túy phạm tội. Điều 25 quy định: “Bị cáo là người nghiện ma túy thì Tòa án có thể ra quyết định bắt buộc chữa bệnh không thời hạn đối với bị cáo thay cho áp dụng hình phạt khác”. Điều 26 quy định: “Người bị kết án bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nếu không phạm tội về ma túy thì thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh không quá 10 năm kể từ ngày được trả tự do”.
Tóm lại, Luật Phòng, chống ma túy các nước có quy định rất khác nhau về các hình thức và biệp pháp cai nghiện ma túy, song đa số các nước quy định có cai nghiện tự nguyện và cai nghiện bắt buộc, quản lý giáo dục sau cai nghiện, một số nước quy định cụ thể việc cai nghiện đối với người nghiện ma túy phạm tội trong quá trình thi hành án phạt tù và sau khi thi hành xong án phạt tù.
Đại tá, TS. Vũ Quang Vinh
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử