Nhằm góp
phần đảm bảo cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực thi đúng
nhiệm
vụ, quyền hạn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp
nhân và
tổ chức trong xã hội, ngày 12/5/1994, Trung Quốc ban hành Luật Nhà nước
bồi thường
thiệt hại, đạo luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1995.
Theo quy định tại chương 2 và chương
3 của Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của Trung Quốc, việc bồi thường nhà
nước được đặt ra trong hai lĩnh vực: hành chính và hình sự (điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án hình sự). Đối với các thiệt hại do các cơ quan nhà nước
thực hiện trong các hoạt động tố tụng như xét xử và thi hành án dân sự, hôn
nhân gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính gây ra, việc bồi thường được áp
dụng tương tự như trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, Luật Bồi thường nhà nước
Trung Quốc chưa đề cập đến các thiệt hại do các cơ quan thực hiện quyền lập
pháp, lập quy gây ra.
Ở Trung Quốc, quy định cách xác
định trách nhiệm bồi thường nhà nước theo hình thức liệt kê. Nhà nước chỉ
chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi những hành vi nhất
định đã được quy định trong Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại.
Cụ thể, trong lĩnh vực bồi thường
hành chính, Điều 3 Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của Trung Quốc quy định:
“Cơ quan hành chính và cán bộ của các cơ quan hành chính trong khi thi hành
công vụ vi phạm quyền nhân thân của công dân thuộc một trong các trường hợp sau
thì người bị hại được bồi thường: Áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính bắt
giữ trái pháp luật hoặc hạn chế quyền tự do thân thể của công dân trái pháp
luật; Giam giữ hoặc tước quyền tự do thân thể của công dân trái pháp luật; Có
hành vi bạo lực như đánh người dẫn đến công dân bị thương tích hoặc tử vong; Sử
dụng vũ khí trái phép gây thương tích hoặc tử vong cho công dân; Các hành vi
khác dẫn đến công dân bị thương tích hoặc tử vong”. Điều 4 quy định: “Các cơ quan
hành chính và cán bộ của các cơ quan hành chính trong khi thi hành công vụ xâm
hại quyền tài sản của công dân thuộc một trong các trường hợp sau thì người bị
hại có quyền được bồi thường: Áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính như phạt
tiền, thu hồi giấy phép hành nghề, ra lệnh đình chỉ sản xuất kinh doanh, tịch
thu tài sản trái pháp luật; Áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính như niêm
phong, thu giữ tài sản trái pháp luật; Trưng thu tài sản, phân chia chi phí
trái với quy định của pháp luật; Những hành vi trái pháp luật khác gây tổn hại
về tài sản”.
Trong lĩnh vực hình sự, Điều 15 Luật
Nhà nước bồi thường thiệt hại của Trung Quốc quy định: “Các cơ quan có chức
năng điều tra, truy tố, xét xử, quản lý trại giam và cán bộ của những cơ quan
này khi thực hiện nhiệm vụ xâm phạm quyền nhân thân, thuộc một trong các trường
hợp sau thì người bị thiệt hại có quyền được bồi thường thiệt hại: Giam giữ sai
đối với người bị tình nghi phạm tội nhưng chưa có dấu hiệu thực tế hoặc chưa có
chứng cứ thực tế là phạm tội; Bắt giữ sai đối vớí những người chưa thực sự phạm
tội; Xét xử lại theo trình tự kiểm tra, giám sát xét xử là vô tội nhưng đã chấp
hành hình phạt đã tuyên; Có hành vi bạo lực như bức cung, đánh đập hoặc sai người
khác dùng các hành vi bạo lực như đánh đập dẫn đến công dân bị thương tích hoặc
tử vong; Sử dụng vũ khí, máy móc trái pháp luật dẫn đến công dân bị thương tích
hoặc tử vong”; Điều 16 quy định: “Các cơ quan thực thi chức năng điều tra, truy
tố, xét xử, quản lý trại giam và cán bộ của những cơ quan này khi thực thi
nhiệm vụ xâm hại đến quyền tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau thì
người bị hại có quyền được bồi thường thiệt hại: Áp dụng các biện pháp trái
pháp luật như niêm phong, thu giữ tài sản; Xét xử lại theo trình tự kiểm tra,
giám sát xét xử là vô tội nhưng đã chấp hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản”.`
Điều 25 của Luật Nhà nước bồi thường
thiệt hại của Trung Quốc quy định, hình thức bồi thường chủ yếu sẽ là bồi
thường bằng tiền. Trường hợp tài sản bị thu giữ trái pháp luật vẫn còn hoặc
có thể khôi phục nguyên trạng được thì tài sản này sẽ được trả lại và khôi phục
lại nguyên trạng.
Trường hợp quyền tự do của công dân
bị xâm phạm thì mức bồi thường cho mỗi ngày bị xâm phạm là mức tiền lương trung
bình mỗi ngày của người lao động tính được trong năm trước đó (Điều 26).
Trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm thì
tiền chi phí y tế và thu nhập bị mất do không lao động được sẽ được bồi thường.
Tiền thu nhập bị mất được tính theo mức tiền lương trung bình mỗi ngày của
người lao động tính trong năm trước đó nhưng tổng số tiền được bồi thường tối
đa là 5 lần tiền lương năm của người lao động đó.
Trường hợp mất khả năng lao động thì
tuỳ theo mức độ mất khả năng lao động mà người bị thiệt hại được bồi thường chi
phí chữa trị và phần thu nhập bị mất được bồi thường tối đa là 10 lần lương
trung bình của người lao động trong năm trước đó (đối với trường hợp mất một
phần khả năng lao động) và 20 lần mức lương trung bình của người lao động trong
năm trước đó (đối với trường hợp mất toàn bộ khả năng lao động). Tiền mà
người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác cũng được bồi thường.
Trong trường hợp người bị thiệt hại
chết thì mức bồi thường là 20 lần tiền lương năm trung bình của người lao động
trong năm trước đó. Tiền mà người bị chết có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác
cũng được bồi thường.
Trường hợp quyền tài sản bị xâm hại,
thì việc giải quyết bồi thường được quy định như sau: Trường hợp bị tịch thu
tài sản, thì tài sản sẽ được hoàn trả; Trường hợp tài sản bị niêm phong, phong
toả thì lệnh niêm phong, phong toả sẽ bị huỷ. Nếu vì sự niêm phong, phong toả
này mà tài sản bị thiệt hại thì phần thiệt hại này sẽ được bồi thường; Trường
hợp tài sản được hoàn trả mà có thể khôi phục nguyên trạng thì tài sản sẽ được
khôi phục nguyên trạng, trường hợp không khôi phục được thì phần thiệt hại sẽ
được bồi thường; Nếu tài sản không hoàn trả lại được do bị mất, bị tiêu huỷ sẽ
được bồi thường toàn bộ giá trị; Nếu tài sản đã bị bán đấu giá thì tiền bán đấu
giá sẽ được hoàn trả; Nếu giấy phép hoặc giấy chứng nhận bị thu hồi trái pháp
luật thì giấy phép và giấy chứng nhận được cấp lại và thiệt hại do hoạt động sản
xuất, kinh doanh bị đình trệ sẽ được bồi thường; Các thiệt hại khác đối với tài
sản sẽ được bồi thường theo thực tế xảy ra.
Như vậy, pháp luật Bồi thường Nhà
nước của Trung Quốc quy định rất rõ các loại thiệt hại được bồi thường cũng như
hình thức bồi thường.
Theo quy định của Luật Nhà nước bồi
thường thiệt hại của Trung Quốc, cơ quan nào gây thiệt hại thì cơ quan đó có
trách nhiệm bồi thường.
Cụ thể, trong lĩnh vực bồi thường
hành chính, Luật quy định tại Điều 7: “Cơ quan hành chính hoặc cán bộ của các
cơ quan hành chính trong khi thi hành công vụ vi phạm quyền lợi hợp pháp của cá
nhân, pháp nhân, tổ chức khác dẫn đến tổn thất thì cơ quan hành chính đó là cơ
quan có nghĩa vụ bồi thường. Hai cơ quan hành chính trở lên khi thi hành công
vụ cùng vi phạm quyền lợi hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác gây tổn
thất thì có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại xảy ra. Các tổ chức thực thi
quyền hành chính theo quy định của pháp luật vi phạm quyền lợi hợp pháp của cá nhân,
pháp nhân, tổ chức khác mà gây tổn thất thì các tổ chức đó là cơ quan có nghĩa
vụ bồi thường. Các tổ chức hoặc cá nhân được cơ quan hành chính uỷ quyền thực
thi quyền hành chính vi phạm quyền lợi hợp pháp của pháp nhân, tổ chức khác mà
gây tổn thất thì cơ quan hành chính là cơ quan có nghĩa vụ bồi thường. Trong
trường hợp cơ quan có nghĩa vụ bồi thường bị giải thể thì cơ quan hành chính
được chỉ định tiếp tục thực thi chức năng của cơ quan hành chính bị giải thể là
cơ quan có nghĩa vụ bồi thường, nếu không có cơ quan tiếp nhận chức năng của cơ
quan hành chính bị giải thể thì cơ quan ra quyết định giải thể là cơ quan có
nghĩa vụ bồi thường”. Điều 8 quy định: “Đối với những trường hợp xét xử lại thì
cơ quan hành chính có hành vi xâm hại đầu tiên là cơ quan có nghĩa vụ bồi
thường, nhưng nếu quyết định sau khi xét xử lại tăng thêm tổn thất thì cơ quan
xét xử lại có nghĩa vụ bồi thường đối với phần tăng nặng đó”.
Trong lĩnh vực bồi thường hình sự,
Điều 19 Luật Bồi thường Nhà nước ở Trung Quốc quy định: “Các cơ quan có chức
năng điều tra, truy tố, xét xử, quản lý trại giam và cán bộ của các cơ quan này
trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của cá
nhân, pháp nhân và các tổ chức khác dẫn đến tổn thất thì những cơ quan này là
cơ quan có nghĩa vụ bồi thường. Các cơ quan ra quyết định tạm giữ hoặc tạm giam
trái pháp luật đối với người bị tình nghi nhưng thực tế không phạm tội hoặc
không có căn cứ chứng minh phạm tội là những cơ quan có nghĩa vụ phải bồi
thường. Cơ quan ra quyết định bắt giam hoặc bắt giam trái pháp luật người không
phạm tội là những cơ quan có nghĩa vụ phải bồi thường. Nếu xét xử lại là vô tội
thì Toà án ra quyết định đã có hiệu lực ban đầu là cơ quan có nghĩa vụ bồi thường.
Toà phúc thẩm xử vô tội thì Toà sơ thẩm và cơ quan ra quyết định bắt người là
những cơ quan cùng có nghĩa vụ bồi thường”.
Đối với bồi thường hành chính, Điều
14 Luật Nhà nước Bồi thường thiệt hại của Trung Quốc quy định: “Cơ quan có
nghĩa vụ bồi thường sau khi bồi thường xong có quyền yêu cầu cán bộ, tổ chức
hoặc cá nhân có hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại bồi hoàn một phần hoặc
toàn bộ tiền bồi thường. Cơ quan hành chính có quyền xử lý hành chính những cán
bộ có hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại, nếu cấu thành tội phạm thì phải
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”.
Đối với bồi thường hình sự, Điều 23
quy định: “Cơ quan có nghĩa vụ bồi thường sau khi bồi thường có quyền yêu
cầu cán bộ thuộc một trong các trường hợp sau phải bồi hoàn một phần hoặc toàn
bộ tiền bồi thường: Có hành vi bạo lực như bức cung, đánh đập hoặc sai người
khác dùng các hành vi bạo lực như đánh đập dẫn đến công dân bị thương tích hoặc
tử vong; Sử dụng vũ khí, máy móc trái pháp luật dẫn đến công dân bị thương tích
hoặc tử vong; Trong khi xử lý vụ án có hành vi tham ô nhận hối lộ, mưu lợi cá
nhân, xét xử trái pháp luật. Ngoài ra, đối với cán bộ có các hành vi nêu trên
còn phải xử lý hành chính theo quy định của pháp luật, nếu cấu thành tội phạm
thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự”.
TCER - Tổng thuật từ
các tài liệu nghiên cứu
Nguồn: Website Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử