Tùy thuộc vào đặc điểm của thể chế chính trị, tổ chức bộ máy Nhà nước nói chung và tổ chức, hoạt động của Nghị viện nói riêng, quy trình lập pháp của mỗi nước có những điểm riêng biệt từ chủ thể có quyền trình dự án đến các bước cụ thể trong quy trình, thủ tục. Tuy nhiên, nhìn chung quy trình lập pháp của các nước đều bắt đầu từ các sáng kiến lập pháp, sau đó đến giai đoạn chuẩn bị dự án luật (phân tích chính sách và soạn thảo dự án luật); tiếp theo, dự án luật được chuyển tới các ủy ban xem xét; được nghị viện xem xét, thông qua và cuối cùng được công bố.
Điểm đáng lưu ý
trong giai đoạn chuẩn bị dự án luật là hoạt động phân tích chính sách trước khi
thiết kế cụ thể các chương, điều của dự thảo luật. Ở một số nước, từ các nguồn
sáng kiến khác nhau, bộ phận phân tích chính sách ở các bộ chuyên nghành sẽ lập
kế hoạch, chuẩn bị dự thảo miêu tả về ý tưởng lập pháp và các lý do của nó, các
báo cáo tác động dự kiến của chính sách, việc tham vấn ý kiến công chúng, dự
trù nguồn tài chính…Sau khi trao đổi với các bộ hữu quan, bộ chủ quản sẽ chuẩn
bị tài liệu như một bản ghi nhớ (các vấn đề về chính sách) để trình Chính phủ.
Sau khi Chính phủ cho ý kiến, tài liệu này sẽ được gửi cho 1 cơ quan chuyên môn
(ví dụ như ở Canada
là Bộ tư pháp) để tiến hành soạn thảo. Trong quá trình soạn thảo, có sự phối
hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia pháp lý và các chuyên gia của các bộ liên quan
(về chính sách). Dự thảo sau khi soạn thảo xong sẽ được thông qua tại phiên họp
Chính phủ và được trình lên nghị viện.
Tại Nghị viện của
nhiều nước trên thế giới, quá trình thảo luận và thông qua luật được thực hiện
theo những cách khác nhau . Dự án luật có thể được thông qua theo quy trình 1,
2 hoặc 3 phiên họp (hay còn gọi là 3 lần đọc). Theo thống kê của Liên minh Nghị
viện thế giới thì có 35 nước thông qua luật theo quy trình 3 phiên họp.
Một số nét chính của quy trình này có thể tóm tắt như sau:
- Ở một số nước
theo chế độ đại nghị, đặc biệt là những nước theo mô hình Nghị viện Anh (như Anh, Canada,
Australia..),
việc thảo luận và thông qua luật được thực hiện theo thủ tục “ba lần đọc”(reading).
+ Lần đọc thứ nhất
Lần đọc thứ nhất
được tiến hành với mục đích đơn giản là để giới thiệu và đưa một dự luật vào
quy trình xem xét. Thông thường lần đọc này mang tính hình thức và không dẫn
đến một sự tranh luận hoặc sửa đổi nào. Sau lần đọc này, dự thảo luật được chính
thức in và phổ biến cho công chúng.
+ Lần đọc thứ
hai và chuyển dự án luật đến các Uỷ ban
Lần đọc thứ hai
được thực hiện với mục đích trình nghị viện xem xét, thảo luận về những nguyên
tắc cơ bản của dự luật và sau đó chuyển dự án luật tới xem xét ở các Uỷ ban hữu
quan. Đây là một giai đoạn có ý nghĩa quan trọng trong quy trình thảo luận,
thông qua luật.
Thủ tục đọc thứ
hai sẽ được mở đầu bằng việc Chính phủ mà cụ thể là Bộ trưởng phụ trách luật
được soạn thảo trình bày trước Nghị viện về những nguyên tắc chính và những nội
dung cơ bản của dự luật. Trên cơ sở báo cáo của Bộ trưởng, Nghị viện sẽ chỉ
thảo luận về những vấn đề thuộc về chính sách, những nội dung chính của dự luật
mà không đi vào việc thảo luận chi tiết về câu chữ hoặc các nội dung quá
cụ thể. Chính ở giai đoạn này, Nghị viện quyết định về nội dung chính sách của
dự án luật. Những quyết định này, về nguyên tắc, sẽ không được xem lại ở các
giai đoạn sau nhằm tránh việc thảo luận đi, thảo luận lại. Quy định như vậy sẽ
tạo ra tính thống nhất trong các lần thảo luận, bảo đảm tính hiệu quả trong
việc thảo luận, thông qua luật. Sau khi thảo luận, Nghị viện có thể sẽ có những
quyết định khác nhau đối với dự luật: chuyển dự luật đến các Uỷ ban của Nghị
viện để xem xét; bác bỏ dự luật; hoặc tạm hoãn xem xét dự luật trong một thời
gian nhất định (trên thực tế, đây là giải pháp để Nghị viện từ chối xem xét dự
luật).
+ Xem xét dự
luật ở các Uỷ ban
Dự án được
tiếp tục xem xét nếu được Nghị viện quyết định chuyển cho các Uỷ ban để xem
xét. Dự luật có nội dung thuộc phạm vi thẩm quyền của Uỷ ban nào thì sẽ được
chuyển tới Uỷ ban đó. Nếu dự luật có nội dung thuộc phạm vi thẩm quyền của
nhiều Uỷ ban khác nhau thì dự luật được gửi tới các Uỷ ban hữu quan đó. Tuỳ
cách làm ở từng nước, dự luật có thể được xem xét trước ở một Uỷ ban rồi chuyển
sang xem xét tiếp ở Uỷ ban khác; hoặc dự luật được xem xét đồng thời ở mỗi Uỷ
ban về nội dung có liên quan đến thẩm quyền của Uỷ ban.
Việc xem xét dự
luật ở các Uỷ ban có vai trò rất quan trọng. Tại các Uỷ ban dự luật sẽ được xem
xét một cách chi tiết (kể cả về kỹ thuật soạn thảo). Đặc biệt ở một số nước (như
Italia, Tây ban nha…) dự luật có thể được thông qua ở các Uỷ ban nếu được Nghị
viện cho phép. Các Uỷ ban được trao cho nhiều thẩm quyền trong giai đoạn xem
xét dự án. Bộ trưởng có thể được mời dự các phiên họp của Uỷ ban và có thể bị
chất vấn. Các Uỷ ban có thể mời chuyên gia cho ý kiến. Sau khi xem xét, Uỷ ban
sẽ chuẩn bị Báo cáo trình ra Nghị viện, trong đó nêu quan điểm của thành viên
Uỷ ban, các đề xuất về việc sửa đổi dự án.
+ Lần đọc thứ
ba và thông qua
Giai đoạn đọc lần
ba là giai đoạn Nghị viện xem xét lần cuối trước khi thông qua. Lần đọc này có nhiều
điểm giống với lần đọc thứ hai, tuy nhiên những sửa đổi trong lần này không
được trái với những nội dung có tính nguyên tắc của dự luật đã được thông qua
tại lần trước. Trong lần đọc thứ ba, dự án có thể được đưa ra để biểu quyết
thông qua hoặc được gửi trả lại cho Uỷ ban. Các dự án được trả lại cho Uỷ ban
thường vì lý do chính trị hoặc vì tình hình thay đổi nên cần phải sửa lại dự
luật.
Một số nước quy
định nguyên tắc là các dự luật phải được thông qua theo từng điều; nhưng cũng
có nước quy định việc thông qua có thể thực hiện bằng cách biểu quyết một hoặc nhiều
chương có nội dung liên quan với nhau. Tuy nhiên, trong quy trình lập pháp của
nhiều nước, thủ tục biểu quyết thông qua cũng mang tính hình thức vì trước đó
các ý kiến của nghị sĩ đã được tiếp thu và đến khi dự luật được đưa ra biểu quyết
thì nó đã nhận được sự đồng thuận của đa số nghị sĩ.
Đối với những nước
có mô hình Nghị viện có hai viện thì dự luật được tiếp tục chuyển xem xét ở
viện thứ hai với quy trình tương tự với quy trình nêu trên (có thể có sự thay đổi
ít nhiều).
- Ở một số nước,
quy trình thông qua luật theo ba lần đọc có thể có những điểm khác với quy
trình nêu trên, cụ thể là:
+ Tại lần đọc thứ
nhất, nghị viện thảo luận về tính cấp thiết của dự án luật và quyết định về
việc có cần thiết ban hành văn bản luật này hay không. Nghị viện sẽ chuyển dự luật
cho một Uỷ ban thường trực hoặc thành lập Uỷ ban lâm thời để tiếp tục chỉnh lý
dự án luật nếu nghị viện nhất trí về tính cần thiết của dự án luật và tư tưởng
chỉ đạo, nguyên tắc của dự án.
+ Tại lần đọc thứ
hai, nghị viện sẽ thảo luận nội dung chi tiết của dự án luật. Việc thảo luận
diễn ra sau khi nghị viện nghe Uỷ ban đã chỉnh lý dự án luật đọc báo cáo về
công tác chỉnh lý và toàn văn nội dung của dự án luật. Các thành viên nghị viện
sẽ thảo luận và biểu quyết đối với từng ý kiến bổ sung, sửa đổi vào các điều
khoản của dự án. Sau đó dự luật được chuyển lại cho Uỷ ban để tiếp tục chỉnh lý
lại.
+ Tại lần đọc thứ
ba, nghị viện sẽ xem xét toàn bộ dự án luật cùng với tất cả những ý kiến bổ
sung, sửa đổi đã được thông qua trước đó. Những ý kiến bổ sung, sửa đổi mới sẽ không
được chấp nhận, trừ những ý kiến về biên tập. Sau đó, nghị viện biểu quyết
thông qua luật.
- Ở một số nước
theo chế độ cộng hoà tổng thống (mà điển hình là ở Hoa Kỳ), quy trình thông qua
luật có những nét đặc thù khác biệt với quy trình trên. Ở các nước này không nhất
thiết phải có thủ tục đọc lần thứ nhất. Các dự án do các nghị sĩ đệ trình và
được chuyển ngay cho các Uỷ ban có thẩm quyền xem xét. Các Uỷ ban của Nghị viện
thường có thẩm quyền rất lớn và dự luật thường được xem xét rất cẩn thận ở các
Uỷ ban. Dự luật được đưa ra Nghị viện xem xét sau khi có báo cáo của Uỷ ban.
Giai đoạn xem xét này của Nghị viện có vai trò rất quan trọng trong quy trình
lập pháp. Sau khi xem xét xong dự luật, Nghị viện sẽ biểu quyết thông qua.
Khác với các văn
bản Luật, Hiến pháp có ý nghĩa và giá trị đặc biệt quan trọng, có hiệu lực tối
cao. Ở các Nhà nước dân chủ tư sản, chủ nghĩa hợp hiến được đề cao, theo đó hiến
pháp là tối cao, không một cơ quan nào của chính quyền được đình chỉ thi hành
hay đơn phương sửa đổi hiến pháp; có chế độ tài pháp hiến pháp để xét xử những
hành vi bất hợp hiến của công quyền. Xét dưới góc độ quyền lực của hiến pháp,
chủ nghĩa hợp hiến có các yếu tố cơ bản: một hiến pháp có quyền lực tối cao;
một quy trình sửa đổi hiến pháp đặc biệt; một chế độ tài phán hiến pháp. Về nội
dung của hiến pháp, theo các học giả tư sản thì tinh thần chung của chủ nghĩa
hợp hiến là giới hạn chính quyền và bảo vệ quyền con người. Để có thể giới hạn
được công quyền, phải theo các nguyên tắc chủ quyền nhân dân và chính quyền dân
chủ, phân chia và đối trọng quyền lực, tư pháp độc lập. Để có thể bảo vệ được
quyền của con người, hiến pháp phải liệt kê các quyền cơ bản với tính chất như
là các quyền tự nhiên mà chính quyền không được xâm phạm. Như vậy, xét trên
phương diện nội dung, chủ nghĩa hợp hiến có các yếu tố: chủ quyền nhân dân và
chính quyền dân chủ; phân chia và đối trọng quyền lực; tư pháp độc lập; các
quyền cơ bản của con người trong hiến pháp.
Với những ý nghĩa
và tính chất như vậy nên việc ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải có một
qui trình đặc biệt khác với qui trình được dùng để ban hành, sửa đổi, bổ sung
luật thông thường. Tuy nhiên, cũng có một số nước sử dụng ngay quy trình lập
pháp để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp (mô hình Hiến pháp mềm dẻo). Ví dụ Hiến pháp
"không pháp điển hóa" của Vương quốc Anh gồm có một phần là các luật
quan trọng và một phần là các tục lệ không thành văn. Các luật tạo nên hiến
pháp Vương quốc Anh có thể được sửa đổi qua một hành động đơn giản của Quốc hội Vương quốc Anh. Các hội nghị hiến
pháp của Vương quốc Anh (nơi các nghị quyết không thành văn được thảo luận)
được triệu tập để tiến hóa về mặt tổ chức theo thời gian. Luật cơ bản
của Israel (Hiến pháp Israel) có thể được sửa đổi một cách đơn giản
tại Knesset (Quốc hội) của Israel.
Ở đa số các nước
dân chủ tư sản khác, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp được thực hiện theo quy
trình đặc biệt. Các quy trình này được quy định theo nhiều mô hình khác nhau
tùy thuộc vào các nước khác nhau, và nhìn chung có thể chia làm các loại sau
đây:
- Mô hình đa số đặc biệt: Hiến pháp
của đa số các quốc gia qui định rằng hiến pháp có thể được sửa đổi bởi ngành
lập pháp, nhưng với điều kiện là phải qua một cuộc biểu quyết với kết quả đa
số. Thông thường là một đa số 2/3 tổng số phiếu bầu. Trong một quốc hội lưỡng
viện, nó có thể bị bắt phải được đa số đặc biệt tại cả hai viện lập pháp. Hiến
pháp của Brazil
có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của cả hai viện quốc hội với số
phiếu đa số là 3/5. Việc sửa đổi Hiếp pháp Úc đòi hỏi cả đa
số cử tri toàn quốc và đa số cử tri tại đa số các tiểu bang. Điều đó có nghĩa
là một Hiến pháp sửa đổi phải được thông qua với đa số phiếu tại 4 trong 6 tiểu
bang của Úc và cũng như đa số phiếu trên toàn quốc.
- Mô hình trưng cầu dân ý: Một số hiến
pháp chỉ có thể sửa đổi bằng sự ưng thuận trực tiếp toàn cử tri trong một cuộc
trưng cầu dân ý. Tại một số quốc gia, một quyết định đưa sửa đổi Hiến pháp ra
trưng cầu toàn cử tri trước tiên phải qua ngành lập pháp. Tại các quốc gia
khác, trưng cầu dân ý có thể được công dân đề xướng qua một thỉnh nguyện thư
được ký bởi một tối thiểu con số cử tri có đăng ký đi bầu.
- Mô hình đa số liên tiếp: Một số
nền pháp lý đòi hỏi sửa đổi hiến pháp phải được ngành lập pháp chấp thuận vào
hai dịp khác nhau trong khoảng thời gian của hai nhiệm kỳ liên tiếp và khác
nhau, cùng với một cuộc tổng tuyển cử trong thời gian quá độ. Dưới một số các
hiến pháp như vậy sẽ có một cuộc giải tán quốc hội và một cuộc tổng tuyển cử
ngay lập tức vào thời gian mà Hiến pháp sửa đổi được áp dụng lần đầu tiên.
- Các mô hình khác:
Việc sửa đổi Hiến pháp Hoa Kỳ phải được thông qua bởi
3/4 tổng số các lập pháp tiểu bang hay hội thảo hiến pháp, đặc biệt được bầu
lên tại mỗi tiểu bang trước khi nó có hiệu lực. Tại Canada các sửa
đổi Hiến pháp khác nhau đòi hỏi một sự kết hợp khác nhau các chính quyền tỉnh
bang để đại diện một tỉ lệ nào đó dân số quốc gia tán thành.
Trong thực tế, nhiều nền pháp lý
kết hợp lại nhiều hơn một loại các qui trình sửa đổi Hiến pháp thông thường.
Thí dụ, Hiến pháp của
Pháp có thể được sửa đổi bởi một trong hai cách sau: hoặc là bằng
cách đa số đặc biệt hoặc là bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Mặt khác, việc sửa
đổi hiến pháp của tiểu bang Massachusetts đầu tiên phải được tán thành bởi
đa số đặc biệt tại lập pháp trong thời gian hai nhiệm kỳ liên tiếp và rồi sau
đó được đưa ra để trưng cầu dân ý.
Có một số hiến
pháp qui định rằng các điều khoản khác nhau của chúng phải được sửa đổi trong
những cách khác nhau. Đa số các điều khoản trong hiến pháp của Lithuania
có thể được sửa đổi theo thể thức đa số đặc biệt tại quốc hội nhưng một sự thay
đổi tình trạng quốc gia thí dụ như một "cộng hòa dân chủ độc lập" thì
phải được tán thành bởi 3/4 đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý. Không như
những điều khoản khác của nó, một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc phải có để sửa
đổi một phần của hiến pháp Iceland nói về quan hệ của nhà thờ và nhà nước.
Nguyễn Phương Thảo
Nguồn: Website Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử