“Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp“, hành pháp và tư pháp”[1] là một vấn đề hết sức mới mẻ ở nước ta. Vì vậy, việc tham khảo kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực này là cần thiết. Trong bài viết, tác giả cung cấp cho bạn đọc những kinh nghiệm về cơ chế bảo hiến của một số nước trên thế giới.
1. Giao chức năng
bảo hiến cho Tòa án có thẩm quyền chung
Tại Hoa Kỳ, Tòa án Tối cao
và tòa án các cấp của liên bang được giao trách nhiệm tài phán hiến pháp. ở cấp
tiểu bang, quyền của một tòa án tuyên bố một đạo luật là không hợp hiến chỉ
xuất hiện trong những năm đầu mới thiết lập chế độ cộng hòa. Tư tưởng dân chủ
nhấn mạnh tới vai trò của các cơ quan lập pháp là thể chế đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân; nhưng người Mỹ đã sớm phát hiện thấy các cơ quan lập
pháp của họ cũng có thể sẽ đe dọa quyền con người và quyền tự do của họ. Vì lẽ
đó, cùng với tư tưởng tam quyền phân lập và nguyên tắc kiểm soát, cân bằng, chế
độ bảo hiến đã trở thành trụ cột bảo đảm tính tối thượng của hiến pháp, bao hàm
quyền của các tòa án được bác bỏ các đạo luật của Quốc hội nếu những đạo luật
này bị phát hiện trái với Hiến pháp. Trong các thập niên đầu thế kỷ XX, Tòa án
Tối cao thường được coi là cơ quan bảo vệ tài sản và các doanh nghiệp trước các
đạo luật cấp tiến. Chẳng hạn, vào năm 1905, Tòa bác bỏ một đạo luật của tiểu
bang New York giới hạn số giờ làm việc của những người làm bánh mì trong một ngày
và tuyên bố những quy định này là “sự can thiệp trắng trợn” vào quyền của các
cá nhân. Cách nhìn nhận như vậy của ngành tư pháp đã khiến cho Tòa án Tối cao
lâm vào thế mâu thuẫn với chương trình phát triển kinh tế mới của Tổng thống
Franklin Roosevelt trong những năm 1930.
Ngày
nay, Tòa án Tối cao xem xét một số lượng lớn các vấn đề khác nhau. Trong thập
niên 1960, khi Earl Warren là Chánh án, Tòa án Tối cao theo đuổi một chương
trình nghị sự đầy tham vọng. Tòa đã phán quyết mỗi người một phiếu bầu (bảo đảm
tới mức cao nhất mỗi khu vực cử tri có số dân bằng nhau) là nguyên tắc trong
bầu cử các thành viên của cơ quan lập pháp. Tòa cũng áp dụng hầu hết thủ tục tố
tụng bảo đảm Tuyên ngôn Nhân quyền tại tất cả các tiểu bang, ủng hộ phong trào
dân quyền và mở đường cho việc thực hiện quyền riêng tư và tự quyết đã quy định
trong Hiến pháp. Cho dù một số thẩm phán do các Tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa
bổ nhiệm có chủ trương “hạn chế ngành tư pháp”; song Tòa án Tối cao vẫn tự tin
giải quyết nhiều vấn đề đại sự quốc gia. Tòa án Tối cao thường xuyên được yêu
cầu quyết định xem một đạo luật hay quy định của liên bang có cản trở hoạt động
của tiểu bang hay không. Tương tự như vậy, người ta cũng thường yêu cầu Tòa
phân xử liệu một đạo luật của tiểu bang, nếu không hợp lệ, có ảnh hưởng tới một
số lợi ích quốc gia như tự do thương mại hay không.
Hệ thống toà án liên bang
gồm có Toà án Tối cao, Toà án Phúc thẩm, Toà án khu vực và các toà án đặc biệt.
Đứng đầu hệ thống toà án là Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Đây là cơ quan quan trọng
trong cơ cấu các cơ quan nhà nước tối cao bên cạnh Quốc hội và Tổng thống Hoa
Kỳ. Toà án Tối cao Hoa Kỳ là cơ quan tư pháp duy nhất được lập ra theo quy định
của Hiến pháp Hoa Kỳ gồm chín thẩm phán, một trong số đó được Tổng thống bổ
nhiệm làm Chánh án. Các thẩm phán của Toà án Tối cao, kể cả Chánh án do Tổng
thống bổ nhiệm phải được Thượng viện phê chuẩn. Khi Toà án ra bản án, tối thiểu
phải có sáu thẩm phán tham gia bỏ phiếu. Toà án Tối cao xem xét sơ thẩm các vụ
án liên quan đến phân định thẩm quyền giữa hai hay nhiều bang, các vụ kiện mà
một trong các bên là đại sứ nước ngoài và một số vụ án khác (thực tế thì số vụ
án này không nhiều). Chức năng cơ bản của Toà án Tối cao là xem xét đơn kháng
cáo quyết định của Toà án Liên bang cấp dưới và Toà án các bang nếu như trong
các quyết định đó động chạm tới vấn đề liên bang cũng như các kháng cáo đề nghị
huỷ bỏ quyết định của bất kỳ toà án nào được coi là trái Hiến pháp, huỷ bỏ luật
của bất cứ bang nào hay văn bản nào của Quốc hội Hoa Kỳ được ban hành trái Hiến
pháp. Toà án Tối cao Hoa Kỳ cũng có quyền, theo đề nghị của Toà án cấp phúc
thẩm, giải thích bất cứ vấn đề nào phát sinh từ các vụ án dân sự hay hình sự và
đưa ra sự giải thích mang tính chất bắt buộc đối với các
vụ án đó…
Một số nước cũng có mô
hình giống Hoa Kỳ. Achentina không có cơ quan chuyên biệt giám sát Hiến pháp,
mà chức năng đó do các Tòa án tài phán chung ở các cấp thực hiện. Toà án Tối
cao có quyền tuyên bố bất kỳ một văn bản pháp luật nào đó trái Hiến pháp.
Theo pháp luật Mêhicô, Toà
án Tối cao có thẩm quyền đặc biệt quan trọng là xem xét giải quyết các tranh
chấp giữa hai hay nhiều bang, giữa các cấp chính quyền trong từng bang về tính
hợp hiến trong hoạt động của các cấp chính quyền, giải quyết xung đột giữa liên
bang và các bang, các xung đột mà một bên là liên bang theo quy định của pháp
luật. Ngoài ra, Toà án Tối cao còn giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử
giữa các toà án liên bang, giữa các toà án liên bang với toà án các bang hay
giữa các toà án các bang. Toà án Tối cao có quyền điều tra các vụ việc vi phạm luật
bầu cử ở cấp quốc gia nhưng chỉ trong những trường hợp Toà nghi ngờ có sự vi
phạm thủ tục bầu cử của các cơ quan thuộc liên bang. Từ năm 1995 Toà án Tối cao
có thẩm quyền huỷ bỏ bất kỳ luật, văn bản dưới luật nào vi hiến. Như vậy, Toà
án Tối cao Mêhicô hiện nay là cơ quan giám sát Hiến pháp.
Giám sát Hiến pháp ở
Singapore cũng do các toà án thực hiện. Thẩm phán tối cao và các thành viên của
Toà án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng. Tuy nhiên,
Thủ tướng cũng cần phải thoả thuận về ứng cử viên các thành viên của Toà án Tối
cao với Thẩm phán tối cao (Chánh án). Tổng thống cũng bổ nhiệm các thẩm phán
Toà án cấp dưới theo đề nghị của Thẩm phán tối cao. Thời hạn bổ nhiệm do Uỷ ban
công vụ pháp lý quy định. Uỷ ban này do Thẩm phán tối cao làm Chủ tịch. Các
thẩm phán Toà án Tối cao thực hiện nghĩa vụ của mình đến 65 tuổi.
Tại Nhật Bản, giám sát
Hiến pháp tức là kiểm tra, thẩm định bất kỳ văn bản pháp luật hay các quyết
định hành chính có phù hợp với Hiến pháp hay không. Việc giám sát Hiến pháp
không chỉ do Toà án Tối cao, mà cả các toà án cấp dưới thực hiện. Một số toà án
đã nhiều lần đưa ra các quyết định rất tiến bộ về sự vi hiến trong các quyết
định đối nội và đối ngoại của Chính phủ.
Theo pháp luật Venezuela,
Toà án tối cao đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp. Toà án này có quyền
tuyên bố sự vi hiến (một phần hoặc toàn bộ) của các đạo luật do các viện của
Quốc hội ban hành, luật của các bang và văn bản của chính quyền tự quản, các
nghị định và văn bản khác của cơ quan hành pháp khác, nếu chúng trái với Hiến
pháp.
Còn tại Yemen, cấp xét xử
cao nhất là Tòa án Tối cao. Thẩm quyền của tòa án này là xem xét các vấn đề về
tính hợp hiến của các đạo luật và các văn bản dưới luật, giải quyết các tranh
chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, kiểm tra tư cách đại biểu của các
thành viên Nghị viện.
2. Tòa án hiến pháp
Mô hình này được áp dụng ở
Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Áo; Liên bang Nga, các nước SNG và các nước
Đông Âu hiện nay.
Toà án Hiến pháp Liên bang
Nga được thành lập vào năm 1991 và hoạt động dựa trên Luật về Toà án Hiến pháp
Liên bang Nga ngày 21/7/1994 để thực hiện chức năng kiểm tra việc tuân thủ Hiến
pháp ở Liên bang Nga. Cơ quan này gồm 19 thẩm phán. Theo yêu cầu của Tổng thống
Liên bang Nga, Hội đồng Liên bang, Đuma Quốc gia Nga, một phần năm số thành
viên Hội đồng Liên bang hoặc đại biểu Đuma Quốc gia Nga, Chính phủ Liên bang
Nga, Toà án Tối cao Liên bang Nga và Toà án Trọng tài cao cấp Liên bang Nga,
các cơ quan lập pháp và hành pháp của các chủ thể liên bang, Toà án Hiến pháp
sẽ xem xét tính hợp hiến của: a) các đạo luật liên bang, các văn bản quy phạm
của Tổng thống, Hội đồng Liên bang, Đuma Quốc gia Nga, Chính phủ Liên bang Nga;
b) Hiến pháp của các nước Cộng hoà, các điều lệ cũng như các văn bản quy phạm
pháp luật của các chủ thể liên bang về những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết
của các cơ quan quyền lực nhà nước Liên bang và những vấn đề thuộc đồng thẩm
quyền giải quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang và các cơ quan
quyền lực của các chủ thể liên bang; c) các thoả thuận giữa các cơ quan quyền lực
nhà nước liên bang và các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể liên bang,
các thoả thuận giữa các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể liên bang
với nhau; d) các hiệp định quốc tế mà Liên bang Nga ký kết nhưng chưa có hiệu
lực.
Ngoài ra, Toà án Hiến pháp
Liên bang Nga còn giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền: a) giữa các cơ quan
quyền lực nhà nước liên bang; b) giữa các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang
và các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể liên bang; c) giữa các cơ quan
nhà nước cao cấp của các chủ thể liên bang với nhau.
Theo các khiếu kiện về
việc vi phạm các quyền và tự do của công dân đã được Hiến pháp quy định và theo
yêu cầu của các Toà án, Toà án Hiến pháp Liên bang Nga kiểm tra tính hợp hiến
của đạo luật đã được áp dụng hoặc đang được áp dụng đối với các trường hợp cụ
thể theo trình tự, thủ tục mà pháp luật liên bang đã quy định.
Theo yêu cầu của Tổng
thống, Hội đồng Liên bang, Đuma Quốc gia, Chính phủ Liên bang, các cơ quan
quyền lực nhà nước của các chủ thể liên bang, Toà án Hiến pháp tiến hành việc
giải thích Hiến pháp Liên bang Nga.
Các văn bản pháp luật hoặc
các quy định riêng biệt của chúng nếu bị Toà án Hiến pháp tuyên bố là không phù
hợp với Hiến pháp, đều không có hiệu lực pháp luật. Các hiệp định quốc tế mà
Liên bang Nga ký kết, bị Toà án Hiến pháp tuyên bố là trái với Hiến pháp sẽ không
có hiệu lực thi hành.
Các chủ thể liên bang có
thể thành lập các Toà án Hiến pháp của mình để xem xét những vấn đề liên quan
đến tính phù hợp hay không phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật mà các cơ
quan quyền lực nhà nước của các chủ thể liên bang, các cơ quan tự quản địa phương
của các chủ thể liên bang ban hành với Hiến pháp của chủ thể liên bang, cũng như
để giải thích Hiến pháp của chủ thể liên bang. Các nguyên tắc, trình tự, thủ
tục hoạt động của các toà án này được quy định trong pháp luật của chủ thể liên
bang tương ứng.
Tại Cộng hòa Be
-la-rút-xi-a, Toà án Hiến pháp thực hiện quyền giám sát Hiến pháp. Theo Điều
116 của Hiến pháp nước này, Toà án Hiến pháp có 12 thẩm phán là các chuyên gia
có nghiệp vụ chuyên môn cao trong lĩnh vực luật học, về nguyên tắc là họ có
trình độ bác học gồm: sáu thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm, sáu thẩm phán
do Thượng viện bầu. Chánh án Toà án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm với sự
đồng ý của Thượng viện. Nhiệm kỳ của các thành viên của Toà án Hiến pháp là 11 năm.
Tuổi về hưu của các thành viên Toà án Hiến pháp là 70.t
Toà án Hiến pháp sẽ căn cứ
theo đề nghị của Tổng thống, Hạ viện, Thượng viện, Toà án Tối cao, Toà án kinh
tế phúc thẩm, Hội đồng Bộ trưởng để đưa ra các kết luận về: sự phù hợp của
luật, sắc luật, lệnh của Tổng thống, các điều ước quốc tế và các cam kết khác
của Be -la-rút-xi-a với Hiến pháp và các văn bản pháp lý quốc tế do Be -la-rút-xi-a
phê chuẩn; sự phù hợp của các văn bản của các tổ chức quốc tế mà Be
-la-rút-xi-a tham gia, các lệnh của Tổng thống được ban hành để thực hiện luật
với Hiến pháp, với các văn bản pháp lý quốc tế mà Be -la-rút-xia đã phê chuẩn,
với các luật và sắc luật; sự phù hợp của các quyết định của Hội đồng Bộ trưởng,
các văn bản của Toà án Tối cao, Toà án kinh tế thượng thẩm, Viện trưởng Viện
kiểm sát với Hiến pháp, các văn bản pháp lý quốc tế mà Be -la-rút-xi-a đã phê
chuẩn, luật, sắc luật và lệnh; sự phù hợp của văn bản pháp luật của bất cứ cơ
qua nhà nước khác với Hiến pháp, các văn bản pháp lý quốc tế mà Be -la-rút-xi-a
đã phê chuẩn, luật, sắc luật và lệnh.
Theo pháp luật Hung
-ga-ry, cơ quan giám sát Hiến pháp ở Hung -ga-ry là Toà án Hiến pháp. Toà án
này được thành lập vào năm 1989 gồm 11 thành viên do Quốc hội bầu ra bằng đa số
phiếu đặc biệt (2/3 tổng số đại biểu). Các ứng cử viên do một uỷ ban mà thành
phần là đại diện cho tất cả mỗi đảng, đoàn trong Quốc hội đề nghị. Nhiệm
kỳ của các thẩm phán là chín năm và không được bầu lại. Giới hạn tuổi được bầu là
70. Các thành viên chọn bầu ra Chánh án và Phó Chánh án với nhiệm kỳ ba năm và
có thể được bầu lại trong giới hạn nhiệm kỳ của Toà án Hiến pháp.
Thẩm quyền của Toà án
Hiến pháp bao gồm: giám sát tính hợp hiến của các quy phạm pháp luật và giải
quyết các vụ việc khác do pháp luật quy định. Quy phạm vi hiến sẽ bị huỷ bỏ.
Theo Luật về Toà án Hiến pháp năm 1989, Toà án Hiến pháp còn thực hiện việc
thẩm tra tính hợp hiến của một số loại quy định của các dự án luật tuy được
thông qua nhưng không được công bố thi hành, nội quy kỳ họp Quốc hội, điều ước
quốc tế; giám sát các quy phạm pháp luật và các phương thức pháp lý khác trong
hoạt động Nhà nước; giải quyết các vụ việc khi có sự khác biệt với các điều ước
quốc tế. Toà án Hiến pháp giải quyết các khiếu kiện đối với sự vi phạm quyền
Hiến định của công dân, các tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan công
quyền. Ngoài ra, Toà án còn có quyền giải thích Hiến pháp.
Xét về tính tích cực trong
hoạt độngX, Toà án Hiến pháp Hung -ga-ry vượt xa so với Toà án Hiến pháp của
các nước khác. Trong những năm 90, Toà án Hiến pháp đã thể hiện như là một lực
lượng chính trị quan trọng, cùng với Nghị viện, đóng vai trò quyết định trong việc
hình thành hệ thống pháp luật mới của đất nước.
Còn tại Rumani, Toà án
Hiến pháp không nằm trong hệ thống chung của Toà án. Như một cơ quan của quyền
lực kiểm tra, Tòa án Hiến pháp bảo đảm sự cân bằng giữa các cơ quan quyền lực
chủ yếu và kiểm tra các quyết định của những cơ quan này. Chức năng chủ yếu của
Tòa án Hiến pháp là kiểm tra sự phù hợp của pháp luật với Hiến pháp. Tòa án Hiến
pháp giải quyết vấn đề về tính hợp hiến của các đạo luật trước khi thực thi
cũng như các đạo luật, các nghị định đã có hiệu lực pháp luật nhưng theo thủ
tục bị phản đối (theo đề nghị của các toà án đã xem xét các vụ án cụ thể),
trong đó quyết định của Tòa án Hiến pháp ở trường hợp đầu không phải là quyết
định cuối cùng. Các đạo luật hoặc quy chế bị Tòa án Hiến pháp coi là vi hiến
phải được xem xét lại. Nếu đạo luật lại được thông qua bằng đa số phiếu, ít
nhất là 2/3 thành viên của từng Viện, thì việc phản đối bị bác bỏ và đạo luật
được áp dụng là bắt buộc.
Tòa án Hiến pháp giám sát
việc tuân theo các thủ tục bầu Tổng thống và chứng thực kết quả các cuộc bầu
cử; xác nhận sự tồn tại của các tình tiết biện hộ cho tính tạm thời của việc
thực hiện chức vụ Tổng thống và thông báo ý kiến của mình cho Nghị viện, Chính
phủ; đưa ra kết luận đối với đề nghị cách chức Tổng thống; giám sát việc tuân theo
các thủ tục về tổ chức, tiến hành các cuộc trưng cầu ý dân và phê chuẩn kết
quả; kiểm tra các điều kiện để sáng kiến pháp luật của công dân có được thực
hiện hay không; ra quyết định giải quyết các khiếu nại mà đối tượng bị khiếu
nại là tính hợp hiến của một đảng chính trị nào đó.
Tòa án Hiến pháp được
thành lập với chín thẩm phán được bổ nhiệm với thời hạn chín năm, thời hạn này
có thể được gia hạn hoặc thay đổi. Ba thẩm phán do Hạ viện bổ nhiệm, ba thẩm
phán do Thượng viện bổ nhiệm và ba thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm. Các thẩm
phán của Tòa án Hiến pháp bầu ra Chánh án với thời hạn ba năm bằng cách bỏ
phiếu kín. Tòa án Hiến pháp phải đổi mới 1/3 số thành viên của mình theo thời hạn
ba năm một lần theo thủ tục Luật đặc biệt của Nghị viện.
Theo Luật về Toà án Hiến
pháp năm 1993 của Cộng hòa Séc, Toà án Hiến pháp thực hiện việc giám sát Hiến
pháp, gồm có 15 thẩm phán, được Tổng thống bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 10 năm. Toà
án Hiến pháp có thẩm quyền: huỷ bỏ những đạo luật trái với Hiến pháp và hủy bỏ
(trong hàng loạt trường hợp) những hợp đồng quốc tế, những mệnh lệnh pháp luật hoặc
những quy định riêng rẽ mà trái với Hiến pháp, luật hoặc thoả ước quốc tế; giải
quyết những khiếu nại Hiến pháp của các cơ quan tự quản theo lãnh thổ đối với
những can thiệp trái pháp luật của nhà nước, những khiếu nại theo Hiến pháp đối
việc giải quyết không đúng thẩm quyền và những can thiệp khác của cơ quan nhà
nước nhằm bảo đảm những quyền cơ bản và tự do được quy định trong Hiến pháp,
những khiếu nại về quyền bầu cử đại biểu hoặc Nghị sĩ, sự tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật trong việc quyết định về giải thể đảng phái chính trị, buộc tội nghị
sỹ chống lại Tổng thống, về những biện pháp cần thiết để thực hiện phán quyết
của Toà án quốc tế có hiệu lực bắt buộc đối với Cộng hoà Séc, nếu không được áp
dụng một biện pháp nào khác,…
Tại Tây Ban Nha, Hiến pháp
năm 1978 đưa Toà án Hiến pháp vào thành phần các cơ quan nhà nước cao cấp. Toà
án này quyết định về tính hợp hiến của các đạo luật và các văn bản của Chính
phủ có hiệu lực như luật, giải quyết những tranh chấp về các vấn đề thẩm quyền
của Nhà nước và các tổ chức của các vùng tự trị, cũng như các đơn kháng án của
các chủ thể (thể nhân và pháp nhân) riêng lẻ đối với các vi phạm các quyền và
tự do hiến định của họ. Cơ quan tư pháp cũng có thể kháng nghị lên Toà án Hiến
pháp, nếu trong quá trình tố tụng cơ quan này phát hiện ra văn bản luật cần
phải áp dụng mâu thuẫn với Hiến pháp. Quyết định của Toà án Hiến pháp, trong đó
có việc xác nhận các luật và các văn bản quy phạm vi hiến, có hiệu lực bắt buộc
và không được phép kháng án. Toà án Hiến pháp gồm 12 người. Họ được Nhà vua bổ
nhiệm theo đề nghị của hai viện thuộc Nghị viện (mỗi viện bốn người), Chính phủ
(hai người) và Đại hội đồng Tư pháp (hai người) từ các thẩm phán, công tố viên
và luật sư có kinh nghiệm (giáo sư trường đại học tổng hợp, các công chức nhà
nước và luật sư). Các thành viên của Toà án được bổ nhiệm với nhiệm kỳ chín năm
(cứ ba năm bổ nhiệm lại 1/3 số thành viên của Toà án). Chánh án Toà án Hiến
pháp do Nhà vua bổ nhiệm theo đề nghị của các thành viên của Toà án Hiến pháp.
ở Thái Lan, Toà án Hiến
pháp được thành lập năm 1998 theo bản Hiến pháp mới để giải quyết những vụ kiện
liên quan đến Hiến pháp. Toà án Hiến pháp gồm Chủ tịch và 14 thẩm phán được Nhà
vua bổ nhiệm theo đề nghị của Thượng viện. Trong 15 thẩm phán, năm người đến từ
Toà án tối cao và hai người từ Toà án hành chính. Họ được tuyển chọn bởi hội
đồng chung của Toà án tối cao và Toà án hành chính. Năm người khác được tuyển
chọn bởi Thượng viện từ một danh sách các chuyên gia pháp luật được giới thiệu
bởi Uỷ ban bầu cử. Ba người còn lại được chọn bởi Thượng viện từ danh sách các
nhà khoa học chính trị được giới thiệu bởi Hội đồng đề cử. Nhiệm kỳ của các
thẩm phán, bao gồm cả Chủ tịch là chín năm và không gia hạn.
Toà án Hiến pháp Thái Lan
có quyền: 1) xác định tính hợp hiến những quyết định của cơ quan nhà nước và
đạo luật của Quốc hội khi có kiến nghị của Toà án hoặc của một nguyên đơn, bị
đơn khi họ có những chứng cứ cho rằng, những quyết định của cơ quan nhà nước
hoặc đạo luật được áp dụng để xét xử có sự vi hiến; 2) xác định tính hợp hiến
của các dự luật khi được yêu cầu của các Hạ nghị sĩ, các Thượng nghị sĩ hoặc Bộ
trưởng quan trọng; 3) xác định tính hợp hiến của bất kỳ đạo luật nào, quy định
hoặc hoạt động của những cơ quan độc lập khi được yêu cầu bởi thanh tra viên;
4) giải quyết những vấn đề liên quan đến tư cách của Hạ nghị sĩ hoặc Thượng
nghị sĩ hay thành viên nội các khi được yêu cầu bởi Hạ nghị sĩ, Thượng nghị sĩ
hoặc Uỷ ban chống tham nhũng quốc gia; 5) giải quyết yêu cầu của Uỷ ban chống
tham nhũng về sự thiếu trung thực của một chính khách khi kê khai tài sản và
các khoản thu nhập, hoặc xem xét sự đúng đắn của những tài sản đó. Nếu toà án
nhận thấy chính khách có tội, thì chính khách sẽ bị cách chức và không được
phép nắm bất kỳ chức vụ chính trị nào trong vòng năm năm; 6) quyền giải tán một
đảng chính trị khi được Uỷ ban bầu cử yêu cầu và quyết định điều lệ quy tắc của
chính đảng, xác nhận điều lệ quy tắc của chính đảng có phù hợp với nguyên tắc
dân chủ và chính thể quân chủ không. Toà án cũng có quyền huỷ bỏ quyết định của
một đảng chính trị nếu nhận thấy quyết định đó không dân chủ; 7) được giao
quyền giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước về thẩm quyền và trách
nhiệm khi được Chủ tịch Quốc hội hoặc cơ quan hữu quan yêu cầu.
Toà án quyết định theo đa
số phiếu của thẩm phán. Mỗi thẩm phán được yêu cầu đưa ra quyết định của mình
và trình bày tại cuộc họp bằng miệng trước khi thông qua quyết định phiên toà.
Cơ quan chuyên trách thực
hiện chức năng giám sát Hiến pháp của Thổ Nhĩ Kỳ là Toà án Hiến pháp được thành
lập năm 1901. Toà án gồm 11 thẩm phán chính và bốn thẩm phán dự khuyết. Các
thành viên này do Tổng thống chỉ định từ các ứng cử viên là thẩm phán Tòa
án tối cao (hai thành viên chính và hai dự khuyết), thành viên của Hội đồng nhà
nước (hai thành viên chính và một dự khuyết), Toà án phúc thẩm quân sự, Toà án
quân sự thượng thẩm, Toà án kiểm toán, Hội đồng cao cấp về giáo dục đào tạo (cứ
mỗi cơ quan này tiến cử một thành viên chính), đoàn luật sư (ba thành viên
chính và một dự khuyết). Các luật gia có từ 15 năm công tác trở lên công tác ở
Toà án hay tổ chức luật sư và tuổi đời không dưới 40 có thể được bổ nhiệm là
thành viên của Toà án Hiến pháp.
Toà án Hiến pháp giám sát
sự phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật, nghị định có hiệu lực như luật và
quy chế nội bộ của Quốc hội dưới góc độ hình thức (thủ tục thông qua các văn
bản pháp luật) và nội dung. Các đạo luật về sửa đổi Hiến pháp được xem xét và
kiểm tra chỉ dưới góc độ hình thức. Tuy thế, Toà án Hiến pháp không thể khởi tố
vụ án vì sự vi hiến về hình thức và nội dung của các nghị định có hiệu lực như
luật và được thông qua khi có các tình trạng khẩn cấp, thiết quân luật và trong
trường hợp có chiến tranh. Trong thời hạn 10 ngày kể từ thời điểm công bố luật,
không được phép khởi tố vụ án về việc bãi bỏ luật đó vì lý do vi hiến theo hình
thức.
Toà án Hiến pháp có thể
xét xử các vụ án về tội phạm liên quan đến trách nhiệm của Tổng thống, các
thành viên Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án và các thành viên Toà án Hiến pháp, Hội
đồng Nhà nước, Toà án tối cao, Toà án quân sự tối cao, Toà án hành chính quân
sự thượng thẩm, các công tố viên chính và các phó của công tố viên chính của
Toà án này, chủ tịch và các thành viên của hội đồng thẩm phán và công tố viên
Toà án kiểm toán.
Tại Cộng hòa Nam Phi, Hiến
pháp quy định tính độc lập của hệ thống tư pháp và chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp.
Hệ thống toà án của Nam Phi bao gồm Toà án Hiến pháp, các Toà án giám đốc thẩm,
Toà án phúc thẩm, Toà án cấp huyện. Toà án Hiến pháp là toà án phúc thẩm về tất
cả các vấn đề về Hiến pháp, chỉ có Toà án này mới có quyền công nhận các văn
bản của Nghị viện và Đại hội đồng tỉnh không phù hợp Hiến pháp. Thẩm quyền đặc
biệt của Toà án Hiến pháp còn bao gồm cả việc giải quyết các tranh chấp giữa
các cơ quan nhà nước ở cấp quốc gia và cấp tỉnh liên quan đến quy chế Hiến
pháp, thẩm quyền và quyền hạn của bất kỳ cơ quan nào trong các cơ quan này, xác
định Nghị viện hay Tổng thống không thực hiện nghĩa vụ Hiến pháp, chứng nhận
Hiến pháp của các tỉnh.
Toà án Hiến pháp đưa ra
quyết định cuối cùng về tính hợp hiến của các văn bản của Nghị viện, Đại hội
đồng tỉnh hay hành vi của Tổng thống và Tòa án Hiến pháp cũng chuẩn y các phán
quyết của các Tòa giám đốc, Tòa phúc thẩm khi các phán quyết này tuyên bố các
văn bản luật nào đó vi hiến.
Tại Hàn Quốc, Toà án Hiến
pháp có một quyền hạn đặc biệt quan trọng là đưa ra quyết định giải tán các
chính đảng và chất vấn Tổng thống, các thành viên trong Chính phủ và những
người có chức vụ cao cấp khác. Toà án Hiến pháp Hàn Quốc gồm chín quan toà, các
quan toà này là những người từ 40 tuổi trở lên, có kinh nghiệm làm việc từ 15
năm trở lên trong các lĩnh vực liên quan đến luật như thẩm phán, kiểm sát viên,
luật sư… Nhiệm kỳ của quan toà là sáu năm và có thể tái nhiệm. Tuổi về hưu của
quan toà là 65 nhưng của Chủ tịch Toà án là 70. Chế độ lương bổng và đãi ngộ
đối với Chủ tịch Toà án Hiến pháp tương đương với Chánh án Toà án tối cao, còn
các quan toà tương đương với Thẩm phán Toà án tối cao.
Các quan toà được lựa chọn
bởi cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp: ba người do Tổng
thổng lựa chọn, ba người do Quốc hội bầu và ba người do Chánh án Toà án tối cao
chỉ định. Tổng thống bổ nhiệm Chủ tịch Toà án Hiến pháp trong số các quan toà
và được Quốc hội phê chuẩn. Hình thức tổ chức này nhìn bề ngoài dường như là sự
tham gia công bằng của cả ba cơ quan tư pháp, lập pháp và Tổng thống, nhưng
trên thực tế, ảnh hưởng của Tổng thống rất mạnh nên cũng có ý kiến cho rằng,
cần phải cải tiến phương thức tổ chức này. Trong Toà án Hiến pháp có khoảng 40
chuyên viên nghiên cứu Hiến pháp. Các chuyên viên này xem xét, điều tra các vụ
việc nhằm hỗ trợ cho các quan toà. Những chuyên viên này do Toà án Hiến pháp
tuyển dụng và trực thuộc Toà án Hiến pháp.
Các quan toà với tư cách
là thành viên của Hội đồng của toàn bộ các quan toà hoặc thành viên của Hội
đồng của một nhóm quan toà được trao quyền phán quyết đối với các vấn đề gây
tranh cãi về Hiến pháp; và với tư cách là thành viên trong hội nghị các quan
toà, họ có tư cách bỏ phiếu trước các vấn đề quan trọng về hành chính của Toà
án Hiến pháp.
Tại Indonexia, quyền lực
tư pháp được trao cho Toà án tối cao và Toà án Hiến pháp. Toà án Hiến pháp gồm
chín thẩm phán do Toà án tối cao, Hạ nghị viện và Tổng thống tuyển chọn. Chủ
tịch Hội đồng và một Phó Chủ tịch được bầu bởi chín thẩm phán. Nhiệm kỳ của
đoàn thẩm phán này là năm năm và có thể được bầu lại một nhiệm kỳ liên tiếp.
Thẩm phán của Toà án Hiến pháp phải là người chính trực, nhân phẩm hoàn hảo, là
chuyên gia tinh thông Hiến pháp cũng như các vấn đề về hiến pháp và không thể
được chọn nắm giữ một chức vụ nhà nước khác. Ngoài
ra, họ phải tốt nghiệp trường luật, ít nhất 40 tuổi, có 10 năm kinh nghiệm
trong ngành luật.
Quyền hạn của Toà án Hiến
pháp là xem xét tính hợp hiến của luật, phân xử sự xung đột quyền lực giữa các
cơ quan nhà nước, quyết định sự giải thể của các đảng phái chính trị, giải
quyết các khiếu kiện về kết quả bầu cử. Toà án Hiến pháp cũng có quyền quyết
định việc đồng ý hoặc không đồng ý với đề nghị của cơ quan có thẩm quyền trong việc
buộc tội Tổng thống.
Toà án Hiến pháp của Mông
Cổ (TSETS) được thành lập năm 1992, bao gồm chín thành viên. Thành viên của Tòa
án Hiến pháp phải là công dân nước Mông Cổ; có vị thế chuyên nghiệp cao cấp về
chính trị cũng như pháp lý; không có tiền án tiền sự; từ 40 tuổi trở lên. TSETS
có nhiệm vụ xem xét tính hợp hiến của các luật cũng như các quyết định khác của
Quốc hội; các sắc lệnh và các quyết định khác của Chủ tịch nước; các nghị quyết
và các quyết định khác của Chính phủ; các điều ước quốc tế do Nhà nước tham
gia; các quyết định của cơ quan bầu cử trung ương liên quan đến việc trưng cầu
ý dân; các quyết định của cơ quan bầu cử trung ương về việc bầu cử của Quốc
hội… TSETS cũng xem xét các tranh chấp, đưa ra kết luận và đệ trình lên Quốc
hội về các nội dung liên quan đến việc vi phạm Hiến pháp, như liệu Chủ tịch
nước, Chủ tịch và các thành viên Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên Chính
phủ, Chủ tọa Toà án tối cao và Tổng kiểm sát trưởng có vi phạm Hiến pháp không;
liệu có thể luận tội được Chủ tịch nước, Thủ tướng và triệu hồi các thành viên Quốc
hội không? TSETS quyết định rằng các điều luật, sắc lệnh và các quyết định khác
của Quốc hội và Chủ tịch nước, các quyết định của Chính phủ, các hiệp ước quốc
tế do Mông Cổ tham gia, các quyết định của cơ quan bầu cử trung ương đều tuân theo
Hiến pháp, luật lệ, sắc lệnh, quyết định và việc phê chuẩn dưới dạng câu hỏi
hoặc những phần không thuộc Hiến pháp, thì không có hiệu lực.
Quyết định của TSETS là
quyết định cuối cùng. Nếu Quốc hội không đồng tình với quyết định của TSETS,
Quốc hội có quyền yêu cầu TSETS xem xét lại quyết định. Trong trường hợp này
TSETS phải xem xét lại quyết định của mình. Tuy nhiên nếu TSETS vẫn giữ quan
điểm thì văn bản pháp luật được tuyên là vi hiến sẽ không có hiệu lực pháp luật
Tòa án Hiến pháp bị hạn
chế trong việc kiểm soát các quyết định của cơ quan hành pháp. Nói cách khác,
Tòa án Hiến pháp không có thẩm quyền đối với các quyết định của thứ trưởng,
chính quyền địa phương hay hành vi của công chức nhà nước. Do đó, tất cả các
quyết định của các thiết chế trực thuộc cơ quan hành pháp, trừ Chính phủ và Chủ
tịch nước đều không thuộc thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp. Đây là một trong
những đặc điểm về kiểm soát được thực hiện bởi Tòa án Hiến pháp Mông Cổ.
3. Hội đồng bảo
hiến
Tại Cộng hòa Pháp, Hội
đồng Hiến pháp là cơ quan đặc biệt, giám sát việc tuân theo Hiến pháp. Thành
phần của Hội đồng gồm chín người, được bổ nhiệm với nhiệm kỳ chín năm. Ba thành
viên do Tổng thống bổ nhiệm, ba do Chủ tịch Thượng viện và ba do Chủ tịch Hạ
viện bổ nhiệm. Tất cả các đạo luật trước khi Tổng thống công bố và các quy chế của
các Viện trước khi thông qua cần phải chuyển cho Hội đồng xem xét và đưa ra kết
luận có phù hợp với Hiến pháp hay không. Nếu Hội đồng Hiến pháp quyết định văn
bản nào mâu thuẫn với Hiến pháp thì Hội đồng có quyền huỷ bỏ văn bản đó. Ngoài
chức năng giám sát Hiến pháp, Hội đồng còn có quyền theo dõi, giám sát đối với
quá trình bầu cử Tổng thống, quá trình tiến hành trưng cầu ý dân toàn quốc và
giải quyết các tranh chấp về tính đúng đắn của các cuộc bầu đại biểu Nghị viện.
Quyết định của Hội đồng Hiến pháp là quyết định cuối cùng và không được khiếu
nại. Các quyết định này là bắt buộc thi hành đối với tất cả các cơ quan Nhà
nước.
Cơ quan chuyên môn về giám
sát Hiến pháp ở Angiêri là Hội đồng Hiến pháp mà mô hình của nó cũng phỏng theo
mô hình Pháp. Nó gồm chín thành viên, ba trong số đó (kể cả Chủ tịch) sẽ được
Tổng thống bổ nhiệm. Ba người nữa do Hội nghị dân tộc nhân dân và Hội đồng dân
tộc bầu, còn ba người khác thì do Toà án Tối cao và Hội đồng Nhà nước bầu. Nhiệm
kỳ của Hội đồng là sáu năm, các thành viên không có quyền tái cử hay bổ nhiệm
lại.
Ngoài việc kiểm tra tính
hợp hiến của các văn bản pháp quy và các hiệp ước quốc tế, Hội đồng Hiến pháp
còn kiểm tra tính hợp pháp của việc trưng cầu ý dân, các cuộc bầu cử Tổng
thống, bầu Nghị viện và công bố kết quả. Nếu Hội đồng Hiến pháp cho rằng quy
phạm pháp luật hay văn bản nào đó không phù hợp với Hiến pháp thì nó sẽ mất
hiệu lực kể từ thời điểm Hội đồng ra nghị quyết. Các hiệp ước nếu đã bị coi là
vi hiến thì không được phê chuẩn.
ở Campuchia, Hiến pháp năm
1993 được sửa đổi năm 1999 quy định thành lập Hội đồng Hiến pháp. Hội đồng Hiến
pháp không thuộc về quyền lực tư pháp và cũng không có bất kỳ vị trí nào trong
hệ thống quyền lực này, mà nó là một thiết chế điều chỉnh giữa ba ngành quyền
lực để cho chúng hoạt động tốt. Hội đồng Hiến pháp có thẩm quyền thẩm tra tính
hợp hiến của các đạo luật. Trong thời gian bầu cử lập pháp, để đối phó với
những đơn kiện trực tiếp từ các Đảng chính trị, Hội đồng Hiến pháp có trách
nhiệm như một Toà án hiến pháp trong một phiên tòa công kha để xem xét. Trong
trường hợp có sự tranh chấp phát sinh từ những cuộc bầu cử lập pháp hoặc bầu
Thượng nghị sỹ, Hội đồng Hiến pháp thực hiện quyền tài phán, mà quyền tài
phán đó không tồn tại trong quyền lực tư pháp. Tuy nhiên, ngay cả trong vai trò
này, Hội đồng Hiến pháp vẫn đứng ngoài hệ thống tư pháp.
Hội đồng Hiến pháp Vương
quốc Campuchia là sự kết hợp đặc điểm của cả hai Hội đồng Hiến pháp của Pháp và
Tòa án Hiến pháp của Đức. Như Hội đồng Hiến pháp của Pháp, nó đóng vai trò như
là một trọng tài và Toà án hiến pháp trong khi diễn ra cuộc bầu cử lập pháp, vì
Thượng nghị sỹ không phải được lựa chọn do bầu cử phổ thông đầu phiếu. Mặc dù
quyền lực và quyết định của nó là cuối cùng và bao trùm tất cả quyền lực
khác, nhưng nó không được tự mình hành động, thẩm tra, giải thích hay là ra
phán quyết nếu không có yêu cầu.
PGS. TS. Đinh Ngọc Vượng
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
——————————————————-
[1] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2006, tr. 127.