Thương hiệu hàng hoá - tài sản vô hình của doanh nghiệp cần được bảo vệ
21:6' 25/6/2009
Nhãn hiệu là một công cụ marketing quan trọng. Xây dựng 1 nhãn hiệu được người tiêu dùng công nhận rất tốn kém và mất nhiều thời gian (với thất bại nhiều hơn thành công). Nó bao gồm việc tạo ra hình ảnh tổng thể về sản phẩm, làm hấp dẫn người tiêu dùng với những đặc trưng riêng biệt. Điều này sẽ làm tăng giá trị của hàng hoá đối với người tiêu dùng. Vì vậy nhãn hiệu là tài sản quý giá của mỗi doanh nghiệp.

Đất nước chúng ta có nhiều sản vật truyền thống đã trở thành đặc sản, tiêu biểu cho cả vùng đất đã sinh ra nó như: Bánh cuốn Thanh Trì, Bánh cốm Nguyên Ninh, Nước mắm Phú Quốc, Bánh đậu xanh Hải Dương, Tương Bần, Kẹo dừa Bến Tre, Đồ hộp Hạ Long. Những sản phẩm đó, trong đời sống là thứ hàng hoá đặc biệt, tiêu biểu cho một vùng miền, một doanh nghiệp, còn trong thương trường, nó được mang tên là thương hiệu. Và để có được thương hiệu bền vững, những người sáng lập ra nó đã phải tìm tòi, sáng tạo và không ngừng bảo tồn, phát huy. Quá trình đó, không phải là gì khác, chính là bảo vệ thương hiệu.

Thời gian gần đây, qua nhiều vụ xử lý vi phạm hàng nhái, hàng giả của lực lượng chức năng tại nhiều địa phương cho thấy, tình trạng sản xuất và tiêu thụ hàng nhái, hàng giả tại các cơ sở nhỏ diễn ra phổ biến. Mặc dù nước ta đã cam kết tham gia vào rất nhiều các Hiệp định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định BTA, Hiệp định Trip, Công ước Berne) nhưng cho đến nay tình trạng vi phạm về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng ở các lĩnh vực với đủ loại (từ việc rất nhỏ là bao diêm cho đến đồ điện tử hay chiếc xe máy). Phổ biến nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, bản quyền, hàng giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý với nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau: hàng nhập lậu cũng có, tiểu ngạch, chính ngạch cũng có, thậm chí có cả những loại hàng hoá sản xuất tại Việt Nam đưa qua biên giới rồi nhập khẩu quay trở lại Việt Nam như là hàng nhập khẩu, đặt hàng với nhãn hiệu tương tự hoặc trùng nhãn hiệu nổi tiếng ở nước ngoài rồi nhập khẩu trở về Việt Nam. Và những việc này trở thành bình thường tới mức như không có chuyện gì xảy ra.

Vấn đề là ở chỗ những doanh nghiệp chân chính, bao giờ cũng làm hàng tốt thì lại chậm chân trong đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, sở hữu công nghiệp. Những doanh nghiệp sinh sau đẻ muộn thì lại chỉ muốn làm nhái hàng của người khác. Một doanh nghiệp làm thức ăn gia súc của Hải Phòng vừa ra nhãn hiệu thì có tới trên 10 cửa hàng ở Hà Nội làm nhái.

Theo các số liệu thống kê của các tổ chức kinh tế quốc tế cho thấy, Việt Nam là một trong những nước có mức độ vi phạm sở hữu trí tuệ cao trên thế giới. Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ ở Việt Nam là diễn ra khắp nơi. Đó cũng là những nguyên nhân chính để người dân vẫn chấp nhận và coi việc sử dụng các sản phẩm vi phạm sở hữu trí tuệ là không có gì ghê gớm.

Hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải sửa đổi. Đó là tình trạng văn bản pháp lý chung chung, chồng chéo, thậm chí còn xung đột lẫn nhau, chưa đủ tính răn đe, nên sau khi xử lý vi phạm thì người ta lại tái vi phạm. Theo Nghị định 63, nếu làm hàng giả thì mức phạt cao nhất là 15 triệu đồng, nếu tái phạm thì có thể bị phạt lên đến 20 triệu đồng. Như vậy mức phạt này chẳng có nghĩa lý gì, vì có những loại hàng làm giả lợi nhuận lên đến hàng tỷ đồng, tức là gấp hàng trăm lần như thế! Ở Hoa Kỳ quy định vấn đề này rất nghiêm khắc, ví dụ làm giả nhãn hiệu hàng hoá có thể bị phạt tới 2 triệu USD và bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm và còn rất nhiều hình thức xử phạt nghiêm khắc khác.

Hiện ở Việt Nam có 6 cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ: công an, toà án, quản lý thị trường, hải quan, thanh tra chuyên ngành, ngoài ra còn thuộc thẩm quyền của UBND địa phương. Tuy đã được phân công cụ thể nhưng những ngành chức năng này hoạt động vẫn chưa hiệu quả, chồng chéo dẫm chân lên nhau, gặp đâu làm đấy, phối hợp liên kết giữa các ngành còn rất hạn chế.

Muốn chống hàng giả, phải có nhãn hiệu hàng thật đủ mạnh. Chính các doanh nghiệp phải làm việc này dù xây dựng một cái tên trong đầu người tiêu dùng không phải dễ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thương hiệu càng ngày càng trở thành một vấn đề nóng. Mục tiêu phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào, trước hết, cũng là xây dựng thương hiệu và bảo vệ thương hiệu. Quá trình biến đổi vĩ đại của thương hiệu xưa trở thành thương hiệu nay đã làm nên một thị trường Việt Nam sôi động hơn, song cũng nhiều cạnh tranh khốc liệt hơn. Đã đến lúc, câu thành ngữ hữu xạ tự nhiên hương đã không còn hoàn toàn phù hợp với các doanh nghiệp, vì ngoài hương tự nhiên, doanh nghiệp còn rất cần một môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong sáng mà giá trị của mỗi doanh nghiệp đều phải được coi trọng.

Trọng Anh
Nguồn: Sở Tư pháp Hải Phòng

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất