Quyền xuất, nhập khẩu trao cho ai?
2:38' 17/7/2007
Tàu hàng xuất khẩu tại cảng Cát Lái, TPHCM
Cho đến nay, nước ta vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam - đối tượng lẽ ra phải được hưởng quyền này theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Vì sao?

 

Ngày 31-5 vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2007/NĐ-CP quy định về quyền xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam. Trước đó, vào đầu tháng 2-2007, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Hai văn bản pháp luật này được ban hành nhằm “nội luật hóa” các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về quyền kinh doanh.

 

Điều đáng ngạc nhiên là sau khi rà soát hai văn bản pháp luật trên và các văn bản pháp luật liên quan đến cam kết gia nhập WTO, có thể khẳng định hiện chưa có văn bản nào quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam - đối tượng lẽ ra phải được hưởng quyền này theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

 

Bài viết này nhằm tìm hiểu vấn đề trên. Tuy nhiên, trước tiên cần tìm hiểu một số khái niệm cơ bản và quan trọng.

 

Hiện diện thương mại là gì?

Theo quy định pháp luật hiện hành, thương nhân nước ngoài hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức sau đây:

 

(i) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (công ty liên doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư); và

 

(ii) Văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (hoạt động theo Luật Thương mại; một số văn phòng đại diện, chi nhánh trong một số lĩnh vực đặc thù sẽ hoạt động theo các luật chuyên ngành).

 

Thương nhân nước ngoài không đầu tư trực tiếp hoặc không mở các văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam được gọi là thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

 

Quyền kinh doanh bao gồm những gì?

Theo báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO thì quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất khẩu và nhập khẩu.

 

Cũng nên nhắc lại về khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, hai khái niệm này đã được Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể tại điều 28. Theo đó xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Còn nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

 

Trong khi đó, quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu lại được định nghĩa tại Nghị định số 23/2007/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 

“Quyền xuất khẩu là quyền mua hàng hóa tại Việt Nam để xuất khẩu, bao gồm quyền đứng tên trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu để thực hiện và chịu trách nhiệm về các thủ tục liên quan đến xuất khẩu. Quyền xuất khẩu không bao gồm quyền tổ chức mạng lưới mua gom hàng hóa tại Việt Nam để xuất khẩu, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”. (Khoản 3 điều 3);

 

“Quyền nhập khẩu là quyền được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hóa đó tại Việt Nam; bao gồm quyền đứng tên trên tờ khai hàng hóa nhập khẩu để thực hiện và chịu trách nhiệm về các thủ tục liên quan đến nhập khẩu. Quyền nhập khẩu không bao gồm quyền tổ chức hoặc tham gia hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”. (Khoản 4 điều 3).

 

Ai được hưởng quyền kinh doanh theo cam kết?

Đoạn 146 trong báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO ghi nhận “...Đại diện Việt Nam khẳng định, kể từ ngày gia nhập, tất cả các công ty và cá nhân (bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) sẽ được phép xuất nhập khẩu các mặt hàng ngoài những mặt hàng liệt kê ở bảng 8a-8c với tư cách là nhà nhập khẩu đứng tên, mà chỉ có nghĩa vụ đăng ký hoạt động kinh doanh này với các cơ quan hữu quan của Việt Nam. Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện thực tế ở Việt Nam sẽ không bị yêu cầu phải đầu tư ở Việt Nam...”.

 

Như vậy, có thể hiểu theo cam kết, quyền xuất nhập khẩu được dành cho tất cả các đối tượng là công ty và cá nhân nước ngoài mà không phụ thuộc vào việc công ty hay cá nhân nước ngoài đó có hay không có hiện diện thương mại ở Việt Nam. Cam kết được trích dẫn ở trên chỉ nhấn mạnh việc trao quyền xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam, điều này không có nghĩa là không trao quyền xuất khẩu, nhập khẩu cho các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam.

 

Trong khi đó, hai nghị định nói ở đầu bài chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

 

Thương nhân có hiện diện thì sao?

Theo các quy định ở trên, thì pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định về quyền kinh doanh của thương nhân có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

 

Về mặt thực tế, việc chưa trao quyền xuất khẩu, nhập khẩu cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam trong khi đã trao quyền xuất khẩu, nhập khẩu cho thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam là hoàn toàn không hợp lý. Ví dụ, một công ty Singapore không có hiện diện thương mại tại Việt Nam có các quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại Nghị định số 90/2007/NĐ-CP trong khi cũng một công ty Singapore khác, mặc dù đã có văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc đã đầu tư ở Việt Nam, lại chưa được bất kỳ một văn bản pháp luật nào cho được hưởng các quyền kinh doanh như Nghị định 90/2007/NĐ-CP đã dành cho công ty Singapore ở ví dụ thứ nhất.

 

Bên cạnh đó, có thể nhận thấy các thương nhân có hiện diện thương mại tại Việt Nam sẽ có nhu cầu lớn hơn nhiều so với các thương nhân không có hiện diện trong việc hưởng quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu bởi vì các thương nhân có hiện diện thương mại thường có quan hệ “làm ăn” nhiều hơn với thị trường trong nước.

 

Vì sao lại có tình trạng như vậy ? Câu hỏi này đang chờ phản hồi từ cơ quan chủ trì soạn thảo các quy định pháp luật liên quan đến quyền kinh doanh ở Việt Nam hiện nay. Sự phản hồi này là rất quan trọng trong việc giải thích sự tuân thủ các cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam về quyền kinh doanh đồng thời là câu trả lời rõ ràng cho các thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam về việc họ được hay không được hưởng quyền kinh doanh.   

Theo Việt Hà, TBKTSG điện tử

Các tin tiếp
Cát cứ xây dựng luật    (25/7/2007)
Các tin trước