Luật Công chứng
11:23' 15/2/2008
Hệ thống công chứng ở nước ta được chính thức thành lập kể từ khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về Công chứng nhà nước. Từ đó đến nay Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về công chứng đó là:
- Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước.
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực...



I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÔNG CHỨNG

Hệ thống công chứng ở nước ta được chính thức thành lập kể từ khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về Công chứng nhà nước. Từ đó đến nay Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về công chứng đó là:
- Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước.
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực.

Ngoài các Nghị định nêu trên quy định một cách tập trung về tổ chức và hoạt động công chứng, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước ta, bao gổm cả những bộ luật, đạo luật quan trọng như: Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở v.v. và nhiều nghị định khác của Chính phủ đều có những quy định liên quan đến hoạt động công chứng.

Tổ chức công chứng ở nước ta tuy ra đời muộn (các nước châu Âu có thiết chế công chứng từ hàng trăm năm nay) nhưng đã được hình thành trong môi trường rất thuận lợi đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nền kinh tế thị trường vừa là đối tượng phục vụ vừa là điều kiện phát triển của thiết chế công chứng.

Đến nay, cả nước có 128 Phòng công chứng, với tổng số 380 công chứng viên, hơn 150 nhân viên nghiệp vụ và khoảng gần 800 nhân viên khác. Tính trung bình, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có từ 1 đến 2 Phòng công chứng, riêng thành phố là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi nơi có 6 Phòng công chứng. Các công chứng viên đều có trình độ cử nhân Luật trở lên. Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho các Phòng công chứng đã được xây dựng khang trang và đã được hiện đại hóa một bước, đặc biệt là đã tiến hành tin học hóa . Hoạt động chứng thực tại các Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng được triển khai thực hiện.

Trong những năm qua, hoạt động công chứng đã thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các tổ chức, cá  nhân trong và ngoài nước.   

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong quá trình phát triển, công chứng nước ta cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về mặt tổ chức và hoạt động làm ảnh hưởng đến các hoạt động giao lưu dân sự, kinh tế của xã hội, hạn chế sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như sự hội nhập của nền kinh tế đó với thế giới, hạn chế hiệu quả quản lý của Nhà nước. Những bất cập, hạn chế đó thể hiện qua những điểm chủ yếu sau đây:

Một là, trong nhận thức về lý luận cũng như trong quy định của pháp luật còn có sự lẫn lộn giữa hoạt động công chứng của Phòng công chứng với hoạt động chứng thực của cơ quan hành chính công quyền. Mặc dù trong Bộ luật dân sự nước ta cũng như trong Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực đã có sự phân biệt về thuật ngữ “Công chứng” và “Chứng thực” nhưng đó mới chỉ là phân biệt mang tính hình thức (hành vi công chứng được dùng cho Phòng công chứng, hành vi chứng thực được dùng cho Uỷ ban nhân dân) và chưa phân biệt đối tượng nào thì công chứng, đối tượng nào thì chứng thực. Do có sự lẫn lộn giữa hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực nên dẫn đến tình trạng, một số văn bản quy phạm pháp luật đã quy định theo hướng các hợp đồng, giao dịch cũng như việc sao y giấy tờ có thể do Phòng công chứng chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân chứng thực. Cách quy định như vậy đã dẫn đến không phân biệt chức năng giữa cơ quan hành chính công quyền là Uỷ ban nhân dân với tổ chức dịch vụ công (Phòng công chứng), thậm chí người ta còn coi Phòng công chứng như một cơ quan hành chính công quyền.

 Hai là, về mô hình tổ chức công chứng của nước ta, hiện nay được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước: Phòng công chứng là cơ quan nhà nước, do Nhà nước thành lập, công chứng viên là công chức nhà nước, hoạt động của Phòng công chứng do ngân sách Nhà nước bao cấp. Việc duy trì mô hình tổ chức công chứng nhà nước theo hình thức này tuy có điểm thuận lợi cho hoạt động công chứng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập như:

- Công chứng viên là công chức Nhà nước nên việc phát triển đội ngũ công chứng viên gặp khó khăn do thiếu biên chế. Trong khi đó Nghị định số 75/2000/NĐ-CP quy định mỗi Phòng công chứng phải có ít nhất 3 công chứng viên nên càng làm hạn chế sự phát triển về số lượng Phòng công chứng do số lượng công chứng viên không có đủ để thành lập Phòng theo quy định, từ đó dẫn tới hệ quả là nhu cầu về công chứng lớn, song tổ chức công chứng phát triển không theo kịp, nên đã dẫn đến sự quá tải của các phòng công chứng.

-  Việc làm và thu nhập của công chứng viên được Nhà nước bảo đảm nên dẫn đến tình trạng một bộ phận không ít công chứng viên chưa thực sự quan tâm đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình và nâng cao chất lượng phục vụ, thậm chí còn tư tưởng quan liêu, cửa quyền trong khi thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác do Công chứng viên là công chức nhà nước nên họ không phải chịu trách nhiệm vật chất trực tiếp trước khách hàng trong trường hợp gây thiệt hại cho khách hàng.
Thiết chế công chứng nhà nước, với những đặc điểm nêu trên, chỉ duy nhất tồn tại ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ. Hiện nay ở các nước như Nga, Trung quốc, Ba lan, Bungaria, v.v. đều đã và đang chuyển đổi sang mô hình công chứng Latine. Đặc điểm của hệ thống công chứng này là: Công chứng viên là người được nhà nước (Bộ trưởng Bộ Tư pháp) bổ nhiệm nhưng không phải là công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, văn phòng công chứng là những “thực thể dân sự”, không phải là những “thực thể hành chính”.

 Ba là, về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: Đây là vấn đề rất quan trọng, quyết định lý do tồn tại của thiết chế công chứng trong đời sống xã hội.  
Theo thông lệ của các nước có hệ thống công chứng Latine, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành. Giá trị thi hành và giá trị chứng cứ của văn bản công chứng thể hiện ở chỗ: các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì có hiệu lực thi hành đối với các bên trong hợp đồng, giao dịch đó và có hiệu với người thứ ba. Nếu vì một lý do nào đó mà một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia không cần phải kiện ra tòa án mà chỉ cần xuất trình văn bản hợp đồng, giao dịch đã được công chứng đó cho cơ quan có thẩm quyền (thí dụ, thừa phát lại) để cưỡng chế thi hành. Trong trường hợp muốn bác bỏ hiệu lực của văn bản công chứng đó thì phải kiện ra tòa án và khi đó thì các tình tiết, sự kiện đã ghi trong hợp đồng, giao dịch đó sẽ trở  thành chứng cứ hiển nhiên trước tòa, không cần phải xác minh, người muốn bác bỏ nó phải xuất trình được chứng cứ ngược lại. Đặc điểm nêu trên của văn bản công chứng có ý nghĩa rất lớn thể hiện vai trò phòng ngừa, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng,  giao dịch đồng thời hạn chế được rất nhiều các vụ kiện tụng ra tòa án, gây tốn kém, lãng phí.

Nghị định số 75/2000/NĐ-CP quy định “Văn bản công chứng, văn bản chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ tr­ường hợp đư­ợc thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không tuân theo quy định tại Nghị định này hoặc bị toà án tuyên bố là vô hiệu. Hợp đồng đã đư­ợc công chứng, chứng thực có giá trị thi hành đối với các bên giao kết; trong trư­ờng hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà n­ước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.” Tuy nhiên trên thực tế, quy định này của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP chưa được các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhận thức đúng đắn và đầy đủ. Mặt khác, quy định nói trên chỉ ở cấp nghị định nên thường bị các văn bản quy phạm pháp luật khác có hiệu lực pháp lý cao hơn bỏ qua, do đó trong nhiều trường hợp gây thiệt hại cho các bên trong hợp đồng, giao dịch.

Những điểm hạn chế bất cập nêu trên về mặt tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta cần phải sớm khắc phục, đặc biệt là trong điều kiện đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế . Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế về công chứng thông qua việc ban hành Luật công chứng, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứng là một nhu cầu cấp thiết.

Chính vì những lý do nêu trên, ngày 29 tháng 11 năm 2006,  tại  kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI  đã thông qua  Luật công chứng. Luật công chứng có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. 
  
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NHỮNG MỤC TIÊU XÂY DỰNG LUẬT CÔNG CHỨNG

1. Quan điểm chỉ đạo
Luật công chứng được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
1.1. Thể chế hoá đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về  cải cách hành chính và cải cách tư pháp về những nội dung liên quan đến hoạt động công chứng, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2005 về chiến lược xây dựng pháp luật đến năm 2020.
1.2. Quán triệt và vận dụng một cách phù hợp các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa một số lĩnh vực quản lý nhà nước.
1.3. Kế thừa những điểm tích cực, hợp lý trong tổ chức và hoạt động công chứng hiện nay, tham khảo kinh nghiệm của các nước ngoài trên cơ sở bám sát thực tiễn củaViệt Nam.

2. Luật công chứng nhằm đạt một số mục tiêu cơ bản sau đây:
2.1. Phát triển đội ngũ công chứng viên đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội về công chứng, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Đổi mới hình thức tổ chức công chứng theo hướng từng bước xã hội hoá nhằm phát huy những tiềm năng to lớn của xã hội vào phát triển hệ thống công chứng mang tính chất là tổ chức dịch vụ công, phục vụ một cách thuận tiện cho các nhu cầu công chứng của nhân dân.
2.3. Xác định rõ phạm vi trách nhiệm của công chứng viên trong hoạt động công chứng.
2.4. Xây dựng quan hệ dịch vụ bình đẳng giữa công chứng viên và người yêu cầu công chứng; minh bạch hóa, đơn giản hóa trình tự, thủ tục công chứng, phát huy tính chủ động, tích cực của công chứng viên trong quá trình tác nghiệp, loại bỏ lối làm việc bàn giấy quan liêu, cửa quyền của công chứng viên.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

Luật công chứng gồm 8 chương, 67 điều.

Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 12)

Chương II. Công chứng viên (từ Điều 13 đến Điều 22 )

Chương III.  Tổ chức hành nghề công chứng (từ Điều 23 đến Điều 34)

Chương IV. Thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch (từ Điều 35 đến Điều 52)

Chương V.  Lưu trữ hồ sơ công chứng (từ Điều 53 đến Điều 55)

Chương VI. Phí công chứng, thù lao công chứng (Điều 56 và Điều 57)

Chương VII. Xử lý vi phạm, khiếu nại và giải quyết tranh chấp (từ Điều 58 đến Điều 64)

Chương VIII. Điều khoản thi hành (Điều 65 và Điều 67)


IV. NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

Nếu như Nghị định số 75/2000/NĐ – CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng thể chế công chứng ở nước ta thì Luật công chứng được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 22 tháng 11 năm 2006 tiếp tục hoàn thiện chế định công chứng, đưa chế định công chứng của nước ta xích lại gần với thông lệ công chứng quốc tế. Luật công chứng ra đời với hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ góp phần nâng cao vị trí của công chứng viên và nghề công chứng trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của công chứng viên nhằm góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, góp phần phục vụ công tác quản lý nhà nước có hiệu quả.
Về nội dung, Luật công chứng đã kế thừa các quy định tích cực, hợp lý về tổ chức và hoạt động công chứng trong Nghị định số 75/2000/NĐ – CP, đồng thời có một số điểm mới quan trọng sau đây: 
  
1. Phạm vi điều chỉnh của Luật
Điểm mới của Luật công chứng so với các nghị định trước đây của Chính phủ là Luật chỉ quy định các vấn đề về công chứng, không quy định các vấn đề về chứng thực (Điều 1).

Công chứng và chứng thực là hai loại hoạt động khác nhau về tính chất của hành vi cũng như đối tượng. Công chứng là hoạt động mang tính chất dịch vụ công. Đối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại v.v. Hoạt động công chứng bao gồm một chuỗi thủ tục rất phức tạp kể từ khi công chứng viên tiếp nhận ý chí của các bên giao kết hợp đông như: xác định tư cách chủ thể của các bên, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủ thể, tính tự nguyện của các bên hợp đồng, xác định nguồn gốc hợp pháp của đối tượng hợp đồng, kiểm tra tính hợp pháp của nội dung của hợp đồng, thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng v.v. Những tình tiết này là rất quan trọng, bảo đảm cho hợp đồng không bị vô hiệu và có ý nghĩa chứng cứ về sau nếu xảy ra tranh chấp giữa các bên cũng như với bên thứ ba. Trong khi đó, hoạt động chứng thực là hành vi mang tính chất hành chính của các cơ quan hành chính công quyền. Đối tượng của hoạt động chứng thực là các giấy tờ, tài liệu. Thí dụ: chứng thực sao y giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ v.v. Theo thông lệ quốc tế, các vấn đề về công chứng được quy định trong luật dân sự, tố tụng dân sự. Pháp luật về công chứng thuộc loại pháp luật về chứng cứ. Còn vấn đề chứng thực thì được quy định trong luật về hành chính.

Việc tách biệt công chứng và chứng thực như vậy vừa là đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính (không lẫn lộn chức năng của cơ quan hành chính công quyền với chức năng của tổ chức sự nghiệp, dịch vụ) đồng thời cũng là điều kiện để chuyển tổ chức công chứng sang chế độ dịch vụ công. Như vậy, Luật công chứng chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động công chứng nhằm phục vụ cho các hoạt động giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại v.v. còn lại vấn đề chứng thực sẽ được quy định trong một nghị định của Chính phủ (hiện nay Bộ Tư pháp đang soạn thảo văn bản này).

2.     Định nghĩa công chứng
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng. Khái niệm công chứng đã được nêu trong 3 Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực, việc thể hiện cụ thể khái niệm này có sự khác nhau, song có sự giống nhau về cơ bản như sau: công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác.

Điều 2 của Luật công chứng  định nghĩa công chứng như sau:
 Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Như vậy, trong định nghĩa nêu trên về công chứng cần lưu ý các điểm sau đây:
Một là,công chứng là hành vi của công chứng viên. Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính công quyền.

Hai là, tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch khác là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ. Trong pháp luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ. Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác nhận. Tính xác thực này được công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: sự tự nguyện của các bên khi ký kết hợp đồng) và do đó, nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được.

Ba là, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận. Đây là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng nội dung (công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức (công chứng hệ Anglosason). Trong công chứng hệ Latine thì các hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới được công chứng viên xác nhận, những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng. Đặc điểm này của công chứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp trong hợp đồng, giao dịch khác của công chứng.

3. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Khẳng định giá trị pháp lý của văn bản công chứng có ý nghĩa quan trọng quyết định sự tồn tại của thể chế công chứng trong đời sống xã hội. Tại sao các hợp đồng, giao dịch (đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch về bất động sản) cần phải được công chứng?. Nói cách khác, các bên hợp đồng, giao dịch có được lợi ích gì khi qua thủ tục công chứng?

Điều 6 của Luật công chứng quy định:
1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thoả thuận khác.
2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị toà án tuyên bố là vô hiệu.

Như vậy, hợp đồng, giao dịch khác đã được công chứng sẽ có hai giá trị pháp lý cơ bản sau đây:

Một là, giá trị chứng cứ không phải chứng minh trước toà án. Có ý kiến phản đối quy định này của Luật với lập luận rằng chỉ có toà án mới có thẩm quyền quyết định một tình tiết, một sự kiện nào đó là chứng cứ. Theo pháp luật tố tụng Việt Nam cũng như của các nước thì chứng cứ phải được thu thập theo trình tự luật định. Ngoài ra, ý kiến này cũng cho rằng hành vi chứng nhận của Công chứng viên không thể biến một tình tiết, sự kiện nào đó trong nội dung của hợp đồng thành chứng cứ hiển nhiên trước toà án được.

Thực ra vấn đề giá trị chứng cứ của văn bản công chứng không phải chứng minh đã được quy định tại Điều 80 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 của nước ta. Cơ sở của quy định này là xuất phát từ việc thừa nhận chức năng của công chứng viên về chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch như đã nêu trên. Tính xác thực do công chứng viên chứng nhận biến các tình tiết, sự kiện có trong hợp đồng, giao dịch trở thành chứng cứ hiển nhiên trước toà. Có người hỏi, một hợp đồng không được công chứng nhưng có người làm chứng (ví dụ luật sư tư vấn đã soạn thảo ra hợp đồng đó và luật sư đứng ra làm chứng) thì có giá trị chứng cứ hiển nhiên trước toà không? Câu trả lời là không. Bởi vì công chứng viên (dù là công chứng viên làm việc trong Văn phòng công chứng, không phải là công chức nhà nước) là một chức danh tư pháp được Nhà nước giao quyền làm việc đó và chỉ có công chứng viên mới được nhân danh Nhà nước để chứng nhận các hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên là người đứng giữa các bên hợp đồng, là người bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên hợp đồng, còn Luật sư thì chỉ bảo vệ quyền lợi của một bên thân chủ mà thôi. Như vậy sứ mệnh của công chứng viên là tạo lập ra văn bản công chứng có giá trị chứng cứ trước toà án.

Hiểu như thế nào về giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng? quy định này có vi phạm quyền đánh giá chứng cứ của toà án không? Tại Điều 6 của Luật cũng đã khẳng định là giá trị chứng cứ của văn bản công chứng sẽ bị bác bỏ khi bị Toà án tuyên là vô hiệu. Nhưng như vậy cũng không có nghĩa là Toà án có thể tuyên vô hiệu một cách tuỳ tiện. Một người muốn yêu cầu toà án tuyên bố một văn bản công chứng là vô hiệu thì phải chứng minh được văn bản công chứng đó đã được lập một cách trái pháp luật. Nếu không chứng minh được điều đó thì văn bản công chứng sẽ được công nhận là chứng cứ hiển nhiên trước toà án. Như vậy, vai trò phòng ngừa của công chứng thể hiện ở chỗ: ngay khi lập hợp đồng, các bên hợp đồng đã củng cố chứng cứ về việc ký kết hợp đồng đó, đề phòng các tranh chấp về sau. Trên tinh thần đó, ở các nước theo hệ công chứng Latine, công chứng viên còn được coi là "thẩm phán phòng ngừa". Công chứng viên được sử dụng con dấu mang hình quốc huy.

Hai là, giá trị thi hành của văn bản công chứng.
Nói văn bản công chứng có giá trị thi hành có nghĩa là những gì đã thoả thuận trong văn bản công chứng thì có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hợp đồng, giao dịch đồng thời đối với cả bên thứ ba. Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa các bên hợp đồng thì hiển nhiên là những gì họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch thì họ có nghĩa vụ thực hiện, không được bội ước. Đó cũng là nguyên tắc của luật dân sự. Vì vậy,  giá trị thi hành của văn bản công chứng (hay nói cách khác là hợp đồng, giao dịch đã được công chứng) thực ra không có gì mới. Mặt khác xét trong mối quan hệ với người thứ ba thì văn bản công chứng cũng có hiệu lực bắt buộc người thứ ba phải tôn trọng và thi hành. Thí dụ: một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được các bên ký kết và đã được công chứng thì các cơ quan (Tài nguyên môi trường) và các cá nhân có liên quan cũng phải công nhận và làm các thủ tục liên quan (trước bạ, sang tên). Điều này cũng là xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng của chủ thể.

4. Công chứng viên
Điểm mới cơ bản của Luật công chứng so với các Nghị định trước đây của Chính phủ về công chứng đó là chế định Công chứng viên. Cụ thể là:

a.  Công chứng viên là chủ thể thực hiện hành vi công chứng chứ không phải là Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng. Trước đây các Nghị định của Chính phủ quy định về công chứng chưa làm rõ được vị trí nêu trên của công chứng viên, thậm chí vai trò, vị trí của công chứng viên bị lu mờ so với Phòng công chứng. Cách thức tổ chức công chứng nhà nước như trước đây khiến cho người dân và các cơ quan, tổ chức chỉ nghĩ đến Phòng công chứng như là chủ thể duy nhất của hoạt động công chứng, còn công chứng viên chỉ là một công chức hành chính làm việc trong Phòng công chứng. Trưởng phòng công chứng hầu như là người chịu trách nhiệm chính trong hoạt động công chứng của phòng và có quyền rất lớn đối với công chứng viên.

Tại Điều 7 của Luật công chứng quy định: Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được bổ nhiệm để hành nghề công chứng.
Như vậy, theo quy định của điều này thì công chứng viên là chủ thể hành nghề công chứng chứ không phải là Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng. Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng chỉ là tổ chức hành nghề của Công chứng viên. Tại Điều 22 cũng quy định: Công chứng viên có quyền lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng.Việc đề cao vị trí của công chứng viên là cơ sở để xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm (kể cả trách nhiệm vật chất) của công chứng viên.

b.  Công chứng viên không nhất thiết phải là công chức nhà nước. Đây là điểm rất mới của luật so với quy định trước đây, nhưng ở nước ngoài thì đây là điều phổ biến. xét về lịch sử hình thành nghề công chứng ở các nước châu Âu thì công chứng viên chưa bao giờ là công chức hưởng lương từ nhà nước. Công chứng viên là một nhân vật đặc biêt: được nhà nước bổ nhiệm chức danh, được thay mặt nhà nước nhưng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Tại Chương II của Luật công chứng quy định về công chứng viên không hề có quy định nào nói rằng công chứng viên phải là công chức nhà nước. Trên thực tế, khi thực hiện Luật công chứng thì sẽ tồn tại hai loại công chứng viên: Nếu công chứng viên làm việc trong các Phòng công chứng nhà nước thì họ là viên chức nhà nước, vì Phòng công chứng sẽ chuyển sang chế độ đơn vị sự nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính như hiện nay; công chứng viên nào làm việc trong các Văn phòng công chứng thì họ không phải là công chức hay viên chức nhà nước. Mặc dù có hai loại công chứng viên làm việc ở hai loại tổ chức hành nghề công chứng khác nhau nhưng về địa pháp lý của họ trong hành nghề công chứng thì  hoàn toàn không khác nhau. Họ có quyền công chứng các loại hợp đồng, giao dịch như nhau, giá trị pháp lý của văn bản công chứng do họ lập ra là như nhau.

c.  Tiêu chuẩn công chứng viên được nâng cao hơn so với hiện hành. Cụ thể là ngoài các tiêu chuẩn như phải có bằng cử nhân luật, có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên và phải có chứng chỉ đào tạo nghề công chứng như hiện nay thì người muốn được bổ nhiệm công chứng viên phải qua thời gian tập sự nghề công chứng ít nhất 12 tháng. Luật quy định rõ nội dung công việc mà người tập sự nghề công chứng phải làm trong thời gian tập sự. Ngoài ra thời gian đào tạo nghề công chứng cũng được Luật quy định là 6 tháng.

5. Tổ chức hành nghề công chứng
  Nếu như trước đây ở nước ta chỉ có một hình thức tổ chức công chứng duy nhất là công chứng nhà nước thì nay theo Luật công chứng sẽ có hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng do Nhà nước thành lập và Văn phòng công chứng do các công chứng viên đầu tư thành lập. Tại Chương III của Luật công chứng quy định rõ cách thức tổ chức, trình tự, thủ tục thành lập, quyền, nghĩa vụ của Phòng công chứng và Văn phòng công chứng v.v. Những quy định tại Chương III về tổ chức hành nghề công chứng thể hiện rất rõ nét tinh thần đổi mới hình thức tổ chức công chứng theo hướng xã hội hoá và dịch vụ hoá. Điều này thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Đối với Phòng công chứng của Nhà nước thì chuyển sang chế độ đơn vị sự nghiệp có thu, tự chủ về tài chính.
Đối với Văn phòng công chứng thì hoạt động theo chế độ công ty (hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân), tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại cho khách hàng.

Quan hệ giữa người yêu cầu công chứng với Phòng công chứng, Văn phòng công chứng là quan hệ mang tính chất dịch vụ (có thu phí, thù lao, các chi phí khác). Việc làm và thu nhập của công chứng viên phụ thuộc vào số lượng và chất lượng dịch vụ công chứng mà họ cung cấp cho người yêu cầu công chứng. Nếu gây thiệt hại cho khách hàng thì họ phải bồi thường thiệt hại thông qua tổ chức hành nghề công chứng.

Mô hình Văn phòng công chứng là một hình thức mới của tổ chức hành nghề công chứng. Về lâu dài hình thức Văn phòng công chứng sẽ là hình thức phổ biến của tổ chức hành nghề công chứng ở nước ta. Mô hình phòng công chứng nhà nước trước mắt là cần thiết, đặc biệt là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa nhưng trong tương lai khi nền kinh tế thị trường ở nước ta phát trển mạnh thì mô hình này sẽ thu hẹp dần. Đây cũng là kinh nghiệm chuyển đổi từ hệ thống công chứng nhà nước sang công chứng “phi nhà nước hoá” của các nước xã hội chủ nghĩa cũ như Trung Quốc, Nga, Ba Lan,  v.v.

Hoạt động công chứng là một hoạt động có liên quan đến quyền lực nhà nước. Trong Từ điển tiếng Việt có định nghĩa: Công chứng là lấy quyền công ra mà làm chứng. Tuy nhiên việc nhân danh quyền công ở đây không nhất thiết phải là công chức nhà nước mới có quyền đó. Tùy theo tình hình mà Nhà nước có thể giao quyền đó cho một tổ chức, một cá nhân không phải của nhà nước thực hiện. Thực tế ở việt nam ta đã có những tiền lệ như: Hội thẩm nhân dân không nhất thiết là công chức nhà nước nhưng vẫn cùng với thẩm phán xét xử. Ở một số nước trên thế giới thậm chí còn có cả lực lượng cảnh sát do tư nhân thành lập v.v. Điều đó chứng tỏ vấn đề xã hội hóa một số lĩnh vực quản lý nhà nước không chỉ đặt ra ở nước ta mà cả ở nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên xã hội hóa công chứng không nên hiểu là chuyển công chứng nhà nước thành công chứng tư nhân. Hình thức Văn phòng công chứng quy định trong Luật không phải là Văn phòng công chứng tư nhân (trong Luật không có chỗ nào nói là Văn phòng công chứng tư nhân). Đã là công chứng thì đều là nhân danh nhà nước. Cũng không nên quan niệm Văn phòng công chứng được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp có nghĩa là chuyển hoạt động công chứng theo hướng kinh doanh chạy theo lợi nhuận. Việc thu phí, thù lao, v.v. của công chứng viên sẽ được nhà nước quy định chứ không phải là theo thoả thuận giữa công chứng viên với người yêu cầu công chứng. Việc thành lập các Văn phòng công chứng cũng không thể theo kiểu tự do thành lập doanh nghiệp mà phải theo quy hoạch của cơ quan có thẩm quyền của địa phương. Trước mắt, các Văn phòng công chứng sẽ được khuyến khích thành lập ở những nơi có điều kiện hành nghề công chứng như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng ...

6. Quản lý nhà nước về công chứng
Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về công chứng , Luật công chứng phân định rõ nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan trong quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng, theo hướng tăng cường vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với việc phát triển và quản lý hệ thống tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương mình, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý nhà nước về công chứng trên phạm vi toàn quốc, trong đó Bộ Tư pháp là đầu mối giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để Luật công chứng đi vào cuộc sống, Bộ Tư pháp đang khẩn trương soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm có đầy đủ các văn bản cho việc thực hiện Luật vào thời điểm Luật có hiệu lực thi hành.
Ngoài ra, để tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng, trong năm 2007, Bộ Tư pháp có kế hoạch tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, biên soạn tài liệu, tổ chức các buổi tọa đàm trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức, biện pháp tuyên truyền pháp luật khác để cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu kỹ về nội dung của Luật công chứng . 
  
Luật Việt

Các tin tiếp
Bộ Luật Hàng hải    (15/2/2008)
Luật Quốc phòng    (15/2/2008)
Luật Quản lý Thuế    (15/2/2008)
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Các tin trước
Luật Trợ giúp pháp lý    (15/2/2008)
Luật Luật sư    (15/2/2008)
Luật Du lịch    (15/2/2008)
Luật Xuất bản    (15/2/2008)
Luật Dạy nghề    (15/2/2008)
Bộ Luật Dân sự    (15/2/2008)