Luật Quốc phòng
11:29' 15/2/2008
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược đã được xác định trong Cương lĩnh của Đảng và các nghị quyết Đại hội Đảng, được thể chế hoá trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và trên toàn bộ hệ thống pháp luật của Nhà nước.


SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT QUỐC PHÒNG

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược đã được xác định trong Cương lĩnh của Đảng và các nghị quyết Đại hội Đảng, được thể chế hoá trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và trên toàn bộ hệ thống pháp luật của Nhà nước.

Trong thời gian qua, bên cạnh việc tập trung đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, từng bước hoàn thiện một số văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động của lực lượng vũ trang như: Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia, Pháp lệnh Dân quân tự vệ, Pháp lệnh Lực lượng dự bị động viên, Pháp lệnh Bộ đội biên phòng, Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát nhân dân, Pháp lệnh Lực lượng an ninh nhân dân, Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, Pháp lệnh Động viên công nghiệp; một số văn bản của Chính phủ quy định về xây dựng lực lượng và chính sách đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, phòng không nhân dân, công tác quốc phòng ở các bộ, ngành và địa phương vv... Các văn bản đó đã góp phần hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Nhu cầu phát triển hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải hoàn thiện khung pháp luật về lĩnh vực quốc phòng và được cụ thể hoá bằng một đạo luật, thể hiện trên những vấn đề sau đây:

- Các vấn đề về tổ chức, nguyên tắc, chính sách đối với lực lượng vũ trang nhân dân; quy định về giáo dục quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng và kinh tế, kinh tế với quốc phòng, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng, công tác chuẩn bị cho động viên quốc phòng; các biện pháp xử lý tình huống về quốc phòng cũng như các mặt bảo đảm cho quốc phòng trong tình hình hiện nay cần phải được thể chế hoá bằng một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao để làm cơ sở thi hành.

- Một số quy định của Hiến pháp năm 1992 như việc Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định các biện pháp đặc biệt bảo đảm cho quốc phòng, an ninh; quy định về tuyên bố tình trạng chiến tranh; ban bố tình trạng khẩn cấp; nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt của Hội đồng quốc phòng và an ninh; thẩm quyền trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức về nhiệm vụ quốc phòng và những vấn đề liên quan đến biện pháp động viên cục bộ, tổng động viên, các biện pháp để thi hành lệnh động viên cần được hệ thống hoá và thể chế hoá đầy đủ hơn. Nội dung một số Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ ban hành từ năm 1946 liên quan đến cơ chế chỉ huy trong quân đội và biện pháp hành chính bảo đảm quốc phòng an ninh quốc gia như thiết quân luật, giới nghiêm, nay đã hết hiệu lực pháp lý, nhưng chưa có văn bản nào thay thế.

- Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển, tuy có nhiều cơ hội mới thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước, mang lại những thành tựu to lớn và  quan trọng, nhưng trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới đòi hỏi khách quan phải phát triển hoàn thiện khung pháp luật cho nhiệm vụ quốc phòng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm vững chắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực quốc phòng phục vụ nhiệm vụ phòng thủ đất nước là vấn đề được các nước trong khu vực rất quan tâm: năm 1982 Inđônêxia công bố "Luật quốc phòng và an ninh quốc gia" cho đến năm 1998 thì ban hành Luật quốc phòng riêng; năm 1992 Nga công bố "Luật quốc phòng Liên bang Nga"; năm 1993, Trung Quốc công bố "Luật quốc phòng Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa"; năm 1994, Cu Ba công bố "Bộ Luật quốc phòng Cu Ba"...

Với các yếu tố chính trị, pháp lý nêu trên, việc Nhà nước ta ban hành Luật quốc phòng trong tình hình hiện nay là rất cần thiết. Do vậy từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và khoá XI, Dự án Luật quốc phòng đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.

Ngày 14 tháng 6 năm 2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Quốc phòng và ngày 27 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch nước ký lệnh số 12/ 2005/ L/ CTN công bố Luật quốc phòng. Luật có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006.

II. MỤC TIÊU CỦA LUẬT QUỐC PHÒNG

Mục tiêu cơ bản của Luật quốc phòng là cụ thể hoá việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, các quy định của Hiến pháp năm 1992, các luật Tổ chức nhà nước về tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thành đạo luật khung về quốc phòng, làm cơ sở pháp lý thống nhất cho nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời thể hiện rõ nguyên tắc hoạt động quốc phòng, chính sách quốc phòng của nhà nước, xác định trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi công dân về nhiệm vụ quốc phòng để chủ động, sẵn sàng xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống xảy ra khi nước nhà bị xâm lược hoặc có các hành động vũ trang bạo loạn, lật đổ hoặc khi có thảm hoạ lớn, dịch bệnh nguy hiểm do thiên nhiên hoặc con người gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc phòng thủ đất nước, làm căn cứ pháp lý khi tiến hành các hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao và các hoạt động khác, góp phần giữ vững ổn định chính trị để xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
 
III-  BỐ CỤC VÀ NỘI  DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC PHÒNG

1. Bố cục của Luật quốc phòng

Luật quốc phòng gồm 9 chương, 51 điều.

- Chương I. Những qui định chung (từ Điều 1 đến Điều 11): quy định phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; xác định chính sách quốc phòng; quy định nguyên tắc hoạt động quốc phòng; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng; trưng mua, trưng dụng tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức vì lý do quốc phòng; nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng khu vực phòng thủ; động viên nền kinh tế quốc dân cho quốc phòng; kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng.

- Chương II. Lực lượng vũ trang nhân dân (từ Điều 12 đến Điều 18): quy định các thành phần của lực lượng vũ trang; nguyên tắc hoạt động và sử dụng lực lượng vũ trang; tổ chức, hoạt động chế độ phục vụ của Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ; trách nhiệm của Công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; bảo đảm hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân.

- Chương III. Giáo dục quốc phòng (từ Điều 19 đến Điều 21): quy định phạm vi, đối tượng, nội dung giáo dục quốc phòng và trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục quốc phòng.

- Chương IV. Công nghiệp quốc phòng (từ Điều 22 đến Điều 25): quy định vị trí, nhiệm vụ xây dựng công nghiệp quốc phòng; cơ sở công nghiệp quốc phòng và trách nhiệm quản lý công nghiệp quốc phòng.

- Chương V. Phòng thủ dân sự (từ Điều 26 đến Điều 28): quy định vị trí, biện pháp và trách nhiệm tổ chức, quản lý công tác phòng thủ dân sự.

- Chương VI. Tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (từ Điều 29 đến Điều 36): quy định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh; ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tổng động viên, động viên cục bộ; thẩm quyền áp dụng biện pháp thiết quân luật, giới nghiêm và việc bãi bỏ các biện pháp nêu trên; quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.

- Chương VII. Bảo đảm quốc phòng (từ Điều 37 đến Điều 43): quy định các biện pháp chủ yếu bảo đảm cho quốc phòng gồm: nguồn nhân lực, tài chính, tài sản, thông tin liên lạc, thông tin tuyên truyền, y tế, công trình quốc phòng, khu quân sự, giao thông.

- Chương VIII. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức và công dân về quốc phòng (từ Điều 44 đến Điều 49): hệ thống hoá, cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, các luật Tổ chức bộ máy nhà nước, các quy định của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức từ Chính phủ đến các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên về quốc phòng.

- Chương IX. Điều khoản thi hành (Điều 50 và Điều 51): quy định Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006; giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.

2.  Một số nội dung cơ bản của Luật quốc phòng

2.1. Giải thích từ  "quốc phòng":
Khoản 1, Điều 3 của Luật quốc phòng giải thích “Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp, toàn diện của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”. Đây là vấn đề được quan tâm trao đổi nhiều trong quá trình soạn thảo. Có ý kiến  cho rằng khái niệm này nên giải thích theo hướng "quốc phòng là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…", hoặc "quốc phòng là công cuộc phòng thủ đất nước…". Trong giải thích từ ngữ, Luật Quốc phòng dùng cụm từ “là công cuộc giữ nước” vừa bao hàm cả chống thù trong, giặc ngoài vừa phù hợp với lời Bác Hồ dạy: “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

2.2. Chính sách quốc phòng của Nhà nước ta
Điều 4 của Luật quốc phòng quy định rõ chính sách quốc phòng của Nhà nước ta, theo đó, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện các chính sách quốc phòng sau:

- Củng cố và tăng cường quốc phòng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

- Thực hiện chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bao gồm đất liền, đảo, quần đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược bằng bất kỳ hình thức nào. 

- Thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, chống chiến tranh dưới mọi hình thức; mở rộng hợp tác về quốc phòng với các nước láng giềng và trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, vì hoà bình, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Nhà nước ghi nhận công lao và khen thưởng thích đáng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.

2.3. Quy định lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.
Vấn đề này được xác định trong giải thích từ ngữ "quốc phòng" tại khoản 1, Điều 3 và quy định trong nguyên tắc hoạt động quốc phòng tại khoản 2, Điều 5 với những lý do sau đây:

- Quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân. Lực lượng vũ trang nhân dân có ba thành phần cơ bản là Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. Mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ riêng do pháp luật quy định, không lực lượng nào làm thay mà chỉ phối hợp, hỗ trợ, chi viện cho nhau trong thực hiện nhiệm vụ.Do vậy, Luật quốc phòng quy định lực lượng vũ trang nhân dân là lực lượng làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

- Tuy nhiên, theo giải thích từ "Quốc phòng" tại khoản 1, Điều 3 thì sức mạnh quân sự là đặc trưng thể hiện ở sức mạnh và sức chiến đấu của quân đội, nên Khoản 1, Điều 14 của Luật đã quy định "Quân đội nhân dân làm nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân  trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng".

2.4. Quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng
Vấn đề này được quy định tại Điều 6 của Luật quốc phòng. Luật Quốc phòng tiếp tục khẳng định quyền và nghĩa vụ của công dân đã được Hiến pháp nước ta ghi nhận, đó là: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”. Ngoài ra, công dân còn có nghĩa vụ phải trung thành với Tổ quốc, làm nghĩa vụ quân sự, được giáo dục về quốc phòng và huấn luyện quân sự, tham gia dân quân tự vệ, phòng thủ dân sự; chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp của Nhà nước và người có thẩm quyền khi đất nước có tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Công dân phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc được huy động làm nhiệm vụ trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng nếu bị thương, tổn hại về sức khoẻ, thiệt hại về tính mạng thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

2.5. Quy định phạm vi Quân đội tham gia làm kinh tế kết hợp với quốc phòng
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhờ tăng gia sản xuất, tham gia làm kinh tế quốc phòng, bảo đảm hậu cần tại chỗ nên Quân đội đã góp phần to lớn giải quyết khó khăn về lương thực, thực phẩm, trang bị chiến đấu của cá nhân và các nhu cầu bảo đảm chiến đấu, cải thiện đời sống cho bộ đội. Hiện nay Quân đội đang tham gia có hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất, làm kinh tế kết hợp với quốc phòng, tham gia các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở một số địa bàn trọng điểm và xây dựng các Khu kinh tế quốc phòng theo yêu cầu nhiệm vụ. Đây là truyền thống của quân đội trong thời chiến cũng như thời bình. Việc quy định phạm vi Quân đội làm kinh tế kết hợp với quốc phòng trong Luật quốc phòng là ghi nhận về mặt pháp lý vai trò của Quân đội trong tham gia lao động sản xuất kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng.
Tại Khoản 4, Điều 11 của Luật đã quy định phạm vi Quân đội làm kinh tế kết hợp với quốc phòng như sau:

 " Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ lập kế hoạch về khả năng và nhu cầu kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng thời bình và thời chiến trình Chính phủ quyết định; tổ chức, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng được Chính phủ giao; tổ chức, quản lý hoạt động của doanh nghiệp phục vụ quốc phòng và đơn vị quân đội được giaolàm kinh tế kết hợp với quốc phòng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội theo quy định của pháp luật."

2.6. Quy định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ
Điều 16 của Luật quốc phòng quy định: “Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ có hệ thống chỉ huy được tổ chức theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ”.
Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ, Bộ trưởng các Bộ (trong đó có Bộ Quốc phòng) là thành viên Chính phủ; theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân năm 1999, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một chức vụ cơ bản cao nhất của sĩ quan quân đội. Luật quốc phòng quy định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ là phù hợp với nguyên tắc hoạt động và sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân mà Điều 13 của Luật quốc phòng đã quy định; phù hợp cơ cấu tổ chức, quản lý và chỉ huy của quân đội và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

2.7. Quy  định về phòng thủ dân sự
Khung pháp lý của công tác phòng thủ dân sự được xác định tại Chương  V của Luật, trong đó Điều 26 quy định như sau: "Phòng thủ dân sự là bộ phận trong hệ thống phòng thủ quốc gia, gồm các biện pháp chủ động phòng, chống chiến  tranh hoặc thảm hoạ do thiên nhiên và con người gây ra, dịch bệnh nguy hiểm; thực hiện phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm hoạ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ hoạt động của cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân".
Trên thực tế, công tác phòng thủ dân sự đã và đang làm. Khái niệm phòng thủ dân sự đã có trong từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, nhưng chưa được luật hoá, nên điểm mới của Luật quốc phòng là có chế định phòng thñ d©n sù bao gồm: vị trí, phạm vi, đối tượng, biện pháp, cơ chế và trách nhiệm tổ chức thực hiện phòng thủ dân sự. Để thực hiện công tác phòng thủ dân sự, Điều 28 của Luật đã giao Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, cơ chế bảo đảm đầu tư xây dựng, tổ chức huấn luyện phòng thủ dân sự. Phạm vi, tổ chức lực lượng và trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự sẽ được quy định chi tiết trong Nghị định của Chính phủ về phòng thủ dân sự.

2.8. Quy  định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật và giới nghiêm
Sau khi Quốc hội ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 thì hình thức văn bản bằng sắc lệnh đương nhiên hết hiệu lực, do vậy Sắc lệnh số 77/SL ngày 29/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định về giới nghiêm và thiết quân luật cũng hết hiệu lực. Nhà nước chưa ban hành Luật về giới nghiêm và Luật về thiết quân luật trong khi Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp năm 2000 chưa quy định về giới nghiêm và thiết quân luật, chưa có khái niệm và quy định tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Do vậy trong Luật quốc phòng đã giải thích và quy định cụ thể thời điểm, thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, về thiết quân luật, giới nghiêm là những biện pháp hành chính đặc biệt của Nhà nước, là cơ sở pháp lý để chủ động xử lý khi có tình huống xảy ra, góp phần giữ ổn định chính trị để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

-  Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được giải thích tại khoản 8, Điều 3 như sau: "Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là trạng thái xã hội của đất nước khi có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành động vũ trang xâm lược hoặc bạo loạn, nhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh".

 Thời điểm áp dụng ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được quy định tại Điều 31, cụ thể:khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương. Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước banbố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương.

- Thiết quân luật được giải thích tại khoản 9, Điều 3 như sau: " Thiếtquân luậtlà biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt có thời hạn do quân đội thực hiện".
Thời điểm áp dụng thiết quân luật được quy định tại Điều 32 như sau:
Khi an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một hoặc một số địa phương bị xâm phạm nghiêm trọng tới mức chính quyền ở đó không còn kiểm soát được tình hình thì Chủ tịch nước ra lệnh thiết quân luật theo đề nghị của Chính phủ. Trong lệnh thiết quân luật phải xác định cụ thể địa bàn thiết quân luật, biện pháp và hiệu lực thi hành; quy định việc thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy tắc trật tự xã hội cần thiết ở địa phương thiết quân luật và được công bố liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Trong thời gian thiết quân luật, việc quản lý nhà nước tại địa bàn thiết quân luật được giao cho Quân đội thực hiện. Người chỉ huy đơn vị quân đội được giao quản lý địa bàn thiết quân luật có quyền ra lệnh áp dụng các biện pháp cần thiết để thực hiện lệnh thiết quân luật và chịu trách nhiệm về việc áp dụng các biện pháp đó. Căn cứ vào lệnh của Chủ tịch nước về thiết quân luật, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện lệnh thiết quân luật, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị quân đội được giao thực hiện nhiệm vụ tại địa phương thiết quân luật chấp hành đúng quy định của pháp luật. Việc xét xử tội phạm xảy ra ở địa phương trong thời gian thi hành lệnh thiết quân luật do Toà án quân sự đảm nhiệm.

Theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước ra lệnh bãi bỏ lệnh thiết quân luật khi tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn thiết quân luật đã ổn định.
- Giới nghiêm được giải thích tại khoản 10, Điều 3 như sau: " Giới nghiêmlà biện pháp cấm người, phương tiện đi lại và hoạt động vào những giờ nhất định tại những khu vực nhất định, trừ trường hợp được phép theo quy định của người có thẩm quyền tổ chức thực hiện lệnh giới nghiêm”.

Thời điểm và thẩm quyền giới nghiêm được quy định tại Điều 33 như sau:
Lệnh giới nghiêm được ban bố trong trường hợp tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại một hoặc một số địa phương diễn biến phức tạp đe dọa gây mất ổn định nghiêm trọng. Trong lệnh giới nghiêm phải xác định rõ khu vực giới nghiêm, thời gian bắt đầu và kết thúc giới nghiêm, những quy định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân tại khu vực giới nghiêm phải chấp hành.

Lệnh giới nghiêm chỉ có hiệu lực trong thời hạn không quá 24 giờ. Trong thời gian giới nghiêm, ngoài việc bị hạn chế đi lại, mọi quyền hợp pháp khác của công dân được pháp luật bảo vệ.

Thẩm quyền ban bố lệnh giới nghiêm được quy định như sau:
+ Thủ tướng Chính phủ ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
+ Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
+ Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnhban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số xã, phường, thị trấn thuộc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh."

2.9. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Quốc phòng và  an ninh trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
Để thực hiện Điều 104 của Hiến pháp năm 1992, hiện chưa có văn bản pháp luật nào cụ thể hoá quy định Hội đồng Quốc phòng và an ninh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt khi được Quốc hội giao là nhiệm vụ gì, do vậy Luật quốc phòng quy định phạm vi Hội đồng Quốc phòng và an ninh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là phù hợp với Điều 104 của Hiến pháp đã quy định " Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt".
Điều 34 của Luật quốc phòng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Quốc phòng và an ninh trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng như sau:
+ Quyết định động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc.
+ Quyết định các biện pháp quân sự và điều động lực lượng vũ trang nhân dân.
+ Quyết định các biện pháp nhằm giữ ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội phục vụ quốc phòng.
+ Chỉ đạo các hoạt động tư pháp, ngoại giao thời chiến.
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt khác khi được Quốc hội giao (theo quy định của Hiến pháp, có những nhiệm vụ quyền hạn đặc biệt Quốc hội có thể giao cho Hội đồng Quốc phòng và an ninh).

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT QUỐC PHÒNG

Luật quốc phòng là luật khung của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực quốc phòng. Để Luật đi vào cuộc sống, trong thời gian tới phải khẩn trương tổ chức phổ biến, quán triệt rộng rãi và tổ chức soạn thảo một khối lượng lớn các văn bản thi hành luật cùng với việc tổ chức rà soát, hệ thống hoá pháp luật về lĩnh vực quốc phòng và các lĩnh vực khác có liên quan; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành cho phù hợp với các quy định của Luật Quốc phòng. Đây là công việc đòi hỏi phải có sự nhận thức, hành động thống nhất của tất cả các cấp, các ngành, địa phương và đơn vị quân đội.

 Để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của Luật trong đời sống xã hội, cần triển khai một số công việc sau đây:
- Tiếp tục tổ chức soạn thảo các văn bản của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, trong đó có một số quy định mới về phũng thủ dân sự, công nghiệp quốc phòng, động viên quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ; xây dựng Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện và thi hành Luật Quốc phòng trong các bộ, ngành, địa phương và đơn vị quân đội; xây dựng một số văn bản quy định quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các Bộ ngành khác (như Bộ Công an, Bộ Công nghiệp…) trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng mà Luật đã giao cho Chính phủ quy định.

Trước mắt, các văn bản trực tiếp thi hành Luật quốc phòng đã ban hành như các Nghị định của Chính phủ về giáo dục quốc phòng; công tác quốc phòng ở các Bộ, ngành và địa phương; phòng không nhân dân; các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác có liên quan đến lĩnh vực quốc phòng cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật quốc phòng.

Thời gian tới cần xây dựng chương trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực quốc phòng giai đoạn từ nay đến 2010, định hướng đến 2020 trong chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời từng bước soạn thảo sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh, các nghị định của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về lĩnh vực quốc phòng cho phù hợp với nguyên tắc, nội dung đã được Luật quốc phòng xác định.

- Luật quốc phòng có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến trách nhiệm thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước và hoạt động của tất cả cơ quan, tổ chức  trong hệ thống chính trị, do vậy để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc ban hành cơ chế, chính sách chung phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng được giao, các cơ quan, tổ chức cần nghiên cứu kỹ nội dung có liên quan đến trách nhiệm của mình để ban hành hoặc soạn thảo trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đã quy định trong Luật quốc phòng.

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Quản lý Thuế    (15/2/2008)
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Các tin trước
Bộ Luật Hàng hải    (15/2/2008)
Luật Công chứng    (15/2/2008)
Luật Trợ giúp pháp lý    (15/2/2008)
Luật Luật sư    (15/2/2008)
Luật Du lịch    (15/2/2008)
Luật Xuất bản    (15/2/2008)
Luật Dạy nghề    (15/2/2008)
Bộ Luật Dân sự    (15/2/2008)