Luạt Ký kết gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế
11:34' 15/2/2008
Bên cạnh những kết quả thu được sau gần 07 năm thực hiện Pháp lệnh năm 1998, thực tế đã phát sinh nhiều yếu tố chủ quan và khách quan đòi hỏi phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định  hiện hành của pháp luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, phải nâng hình thức văn bản điều chỉnh việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế từ Pháp lệnh thành Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế...

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG LUẬT KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN  ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế được ban hành ngày 20 tháng 8 năm 1998 (sau đây gọi là Pháp lệnh năm 1998) đã tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho các cơ quan Nhà nước thống nhất thực hiện một quy trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, tranh thủ sự hợp tác quốc tế, thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của nước ta phát triển mạnh mẽ, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Kể từ thời điểm ban hành Pháp lệnh năm 1998 đến nay, nước ta đã ký kết, gia nhập hơn 700 điều ước quốc tế (chưa kể điều ước quốc tế được ký với danh nghĩa bộ, ngành). Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, số lượng điều ước quốc tế của Việt Nam ký kết đã bằng số lượng của gần 50 năm trước đó. Trong tiến trình hội nhập, điều ước quốc tế thực sự trở thành một công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước nhằm thiết lập và thúc đẩy các quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, văn hoá, y tế, giáo dục, xã hội… Bên cạnh đó, công tác ký kết và thực hiện điều ước quốc tế còn đóng vai trò tích cực đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực thi pháp luật ở Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả thu được sau gần 07 năm thực hiện Pháp lệnh năm 1998, thực tế đã phát sinh nhiều yếu tố chủ quan và khách quan đòi hỏi phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định  hiện hành của pháp luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, phải nâng hình thức văn bản điều chỉnh việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế từ Pháp lệnh thành Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể:

Một là, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã bổ sung thêm một số điều khoản làm thay đổi thẩm quyền về việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ được quy định trong Pháp lệnh năm 1998.
Thực tiễn ký kết, gia nhập điều ước quốc tế trong thời gian qua cũng cho thấy, các quy định của Hiến pháp dần dần đã được áp dụng thay cho một số quy định của Pháp lệnh năm 1998 liên quan đến những vấn đề về thẩm quyền quyết định ký kết, gia nhập điều ước quốc tế. Như vậy, một phần nội dung của Pháp lệnh năm 1998 đã không còn phù hợp với các quy định mới của Hiến pháp.
Hơn nữa, các quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ liên quan đến việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế quy định tại Pháp lệnh, xét về mức độ tương thích với một số văn bản quy phạm pháp luật khác do Quốc hội ban hành, nếu tiếp tục thể hiện dưới hình thức pháp lệnh là chưa thật phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách lập pháp hiện nay ở nước ta.

Hai là, một số quy định liên quan đến việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, mặc dù đã được quy định phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật và được áp dụng từ nhiều năm nay, nhưng vẫn chưa được ghi nhận thành một nguyên tắc trong pháp luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế ví dụ như quy định: “trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác với quy định tương ứng của điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”.

Ba là, việc trong năm 2001 Nhà nước ta gia nhập Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước, đã đặt ra yêu cầu đánh giá mức độ tương thích giữa các quy định của pháp luật hiện hành về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế với nội dung của Công ước Viên năm 1969. Đặc biệt,  một số quy định trong Công ước Viên năm 1969 liên quan đến cam kết quốc tế của Việt Nam như quy định tại Điều 27 của Công ước với nội dung: “Thành viên của một điều ước quốc tế không thể viện dẫn những quy định của pháp luật quốc gia để biện minh cho việc không thi hành điều ước quốc tế đó”, cũng chưa được thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam.

Bốn là, quy định của pháp luật hiện hành về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế còn thiếu, chưa cụ thể và chưa đồng bộ. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế cũng cho thấy, nhiều quan hệ pháp lý phát sinh giữa các cơ quan Nhà nước liên quan đến việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế còn thiếu hoặc chưa được điều chỉnh một cách đồng bộ trong pháp luật hiện hành về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế như quy định về thẩm quyền, thủ tục, trình tự uỷ quyền, ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập, thẩm định, giải thích điều ước quốc tế, sửa đổi, bổ sung, bảo lưu. Từ đó, thường dẫn đến việc các cơ quan Nhà nước vận dụng các quy định của pháp luật hiện hành một cách tuỳ tiện và thiếu thống nhất.

Năm là, một số quy định hiện hành của pháp luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế trong quá trình áp dụng đã cho thấy là không còn phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế cũng như thực tiễn tại Việt Nam về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Những quy định này cần được sửa đổi hoặc bãi bỏ như vấn đề phân loại điều ước quốc tế, trong đó có điều ước quốc tế ký kết với danh nghĩa bộ, ngành hoặc danh nghĩa của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi chung là cấp bộ, ngành).
Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc xây dựng và ban hành Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế là rất cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần từng bước hoàn thiện quy trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của nhà nước ta, thể hiện nhận thức và đánh giá đặc biệt của Đảng, Nhà nước ta về vị trí, vai trò quan trọng của điều ước quốc tế – công cụ hữu hiệu nhằm thiết lập, thúc đẩy các quan hệ quốc tế của Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực.

Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( Khóa XI, kỳ họp thứ 7) đã thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN  ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Việc xây dựng Luật điều ước quốc tế được thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo sau:

Một là, Luật điều ước quốc tế phải thể chế hoá được đường lối, chủ  trương của Đảng, mục tiêu, chính sách của Nhà nước về đối ngoại theo phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế. Các quy định của Luật phải cụ thể hoá được những nguyên tắc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế là phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Hai là, Luật điều ước quốc tế phải cụ thể hoá được nguyên tắc điều ước quốc tế được ký kết, gia nhập và thực hiện phải phù hợp với Hiến pháp. Trên cơ sở đó, cụ thể hoá một cách đầy đủ các nguyên tắc về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được quy định tại Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo đảm cho các cơ quan Nhà nước thực hiện một cách thống nhất các yêu cầu trong việc đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế.

Ba là, Luật điều ước quốc tế cần được xây dựng trên cơ sở tiếp tục tiếp thu, kế thừa các nội dung vẫn còn có giá trị về thực tiễn cũng như lý luận của Pháp lệnh năm 1998 và nội dung liên quan đến điều ước quốc tế trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, tiếp tục bổ sung, sửa đổi bằng những nội dung mới phù hợp với yêu cầu đặt ra.

Bốn là, Luật điều ước quốc tế phải có các quy định cụ thể, thống nhất bảo đảm đáp ứng được yêu cầu tiếp tục nâng cao trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tham gia vào việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế Việt Nam, tham gia vào đời sống pháp lý của cộng đồng quốc tế, bảo vệ được quyền và lợi ích của Việt Nam, bảo đảm khi Luật được ban hành có thể thực hiện được ngay, hạn chế việc ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.

Năm là, Luật điều ước quốc tế cũng phải pháp điển hoá được cam kết quốc tế từ Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước mà Việt Nam là thành viên, bảo đảm tính thống nhất của các quy định trong Luật với nội dung các cam kết của Công ước, đặc biệt nguyên tắc: điều ước quốc tế có hiệu lực ràng buộc các thành viên và phải được các thành viên tự nguyện thi hành với thiện chí và trên cơ sở đó Công ước sẽ được triển khai thực hiện một cách có hiệu quả tại Việt Nam.

Sáu là, Luật phải gắn kết việc ký kết, gia nhập với việc thực hiện điều ước quốc tế, gắn kết được kế hoạch ký kết và thực hiện điều ước quốc tế với chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để đảm bảo điều ước quốc tế có hiệu lực với Việt Nam được thực hiện có hiệu quả. Thiết lập cơ chế phối hợp thực hiện giữa các cơ quan xây dựng kế hoạch ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế hàng năm, dài hạn, tổ chức thực hiện, rà soát, tổng rà soát, giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế.

III. CƠ CẤU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

A. CƠ CẤU CỦA LUẬT.

 Luật điều ước quốc tế gồm 9 Chương với  107 điều, cụ thể như sau:
- Chương I: Những quy định chung, gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8.
- Chương II:  Ký kết điều ước quốc tế, gồm  6 mục với 40 điều, từ Điều 9 đến Điều 48.
- Chương III:   Gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên, gồm 5 điều, từ Điều 49 đến Điều 53.
- Chương IV: Bảo lưu điều ước quốc tế nhiều bên, gồm 7 điều, từ Điều 54 đến Điều 60.
- Chương V:  Hiệu lực,  áp dụng  tạm thời  toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế gồm 4 điều, từ Điều 61 đến Điều 64
- Chương VI: Lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, công bố, đăng ký điều ước quốc tế, gồm 6 điều, từ Điều 65 đến Điều 70.
- Chương VII: Thực hiện điều ước quốc tế, gồm 4 mục với 26 điều, từ Điều 71 đến Điều 96.
- Chương VIII. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, gồm 8 điều, từ Điều 97 đến Điều 104. 
- Chương IX . Điều khoản thi hành, gồm 3 điều, từ Điều 105 đến Điều 107.

B. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT.

Chương I: Những quy định chung.
Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; quản lý nhà nước về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật trong nước; các loại các điều ước quốc tế; chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế.

So với Pháp lệnh năm 1998, Chương I có thêm một số nội dung mới có tính nguyên tắc:
1. Luật quy định chỉ áp dụng đối với hai loại điều ước quốc tế được ký kết, gia nhập nhân danh Nhà nước và nhân danh Chính phủ (Điều 1). Thoả thuận quốc tế được ký kết nhân danh bộ, ngành không được điều chỉnh tại Luật này. Các thoả thuận quốc tế này sẽ được điều chỉnh bằng các bản quy phạm pháp luật mới tương ứng của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và của Chính phủ ( cụ thể là Pháp lệnh ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế).

2. Sửa đổi nội dung giải thích một số thuật ngữ trong Pháp lệnh năm 1998 cho phù hợp với Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi): điều ước quốc tế, ký kết, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập, bảo lưu, chấm dứt hiệu lực, huỷ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện điều ước quốc tế, đồng thời giải thích thêm một số thuật ngữ mới: trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế, điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bên ký kết nước ngoài, tổ chức quốc tế cho phù hợp với nội dung liên quan ( được quy định mới trong Điều 2 của Luật).

3. Bổ sung thêm và ghép các nguyên tắc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế vào một điều (Điều 3), gồm 5 nguyên tắc chính sau: 
- Phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế ( Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lónh thổ quốc gia, cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, khụng can thiệp vào cụng việc nội bộ của nhau, bỡnh đẳng, cựng cú lợi và những nguyờn tắc cơ bản khỏc của phỏp luật quốc tế);
- Phải phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Điều ước quốc tế có điều khoản trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi được ký hoặc gia nhập;
- Điều ước cấp Chính phủ phải phù hợp với điều ước cấp Nhà nước;
- Điều ước quốc tế có hiệu lực phải được nghiêm chỉnh thực hiện.

4. Quy định mới về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với các văn bản quy phạm pháp luật trong nước. Trên thực tế, quan hệ này đã được khẳng định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ hàng chục năm qua. Hầu hết trong các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định được ban hành đều nêu rõ: nếu quy định trong các văn bản này khác với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì áp dụng các quy định của điều ước quốc tế đó. Đây là một nguyên tắc quan trọng được thừa nhận trong hệ thống pháp luật hiện hành và do đó, nó được đưa vào Luật như là một nguyên tắc chung và không cần thiết phải được nhắc lại trong từng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 6 Khoản 1).

Khoản 2 Điều 6 của Luật còn khẳng định việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viờn cú quy định về cựng một vấn đề.

Ngoài ra, Luật còn quy định điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam có thể áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tại quyết định về việc ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế. Trong trường hợp không thể áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bói bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó(Điều 6 Khoản 3).

5. Quy định mới về những hành vi pháp lý chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đối với Việt Nam (Điều 8).
Chỉ thông qua các hành vi pháp lý cụ thể của mình như : ký kết; gia nhập; phê duyệt; phê chuẩn điều ước quốc tế; trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế; thực hiện các hành vi khác theo thoả thuận với bên ký kết nước ngoài thì Việt Nam mới bị ràng buộc của điều ước quốc tế đó. Nghĩa là chỉ khi đó, điều ước quốc tế mới có hiệu lực đối với Việt Nam, khi đó Việt Nam mới có trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách chủ thể được quy định trong điều ước quốc tế. 

Chương II:  Ký kết điều ước quốc tế.
Chương này quy định về trách nhiệm đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế; thẩm quyền, nội dung quyết định, trình tự, thủ tục, hồ sơ trình đàm phán, ký điều ước quốc tế; ngôn ngữ, hình thức điều ước quốc tế; thẩm định điều ước quốc tế; các trường hợp cần và không cần uỷ quyền đàm phán, ký điều ước quốc tế và tham dự hội nghị quốc tế và thủ tục uỷ quyền; xác thực văn bản điều ước quốc tế; ký chính thức điều ước quốc tế ở trong nước và ở nước ngoài; trách nhiệm gửi văn bản sau khi ký; phê chuẩn, phê duyệt; thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ trình phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế; các thủ tục đối ngoại về phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế.

So với Pháp lệnh năm 1998, Chương này có bổ sung nhiều quy định mới làm rõ hơn các quy định của Pháp lệnh năm 1998 cũng như kết cấu lại nội dung và hình thức các điều cho gắn kết với nhau hơn và tạo thành hệ thống các quy định theo thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục, hồ sơ trình về việc ký, phê chuẩn, phê duyệt và chia thành các mục riêng trong Chương. Đặc biệt, cũng tại chương này, Luật dành hẳn một mục quy định về việc thẩm định điều ước quốc tế, trong đó chỉ rõ nguyên tắc: điều ước quốc tế phải được thẩm định trước khi trình Chính phủ về việc đàm phán, ký và Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định điều ước quốc tế; phạm vi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thẩm định điều ước quốc tế cũng như các qui định cụ thể về hồ sơ đề nghị thẩm định.

Luật cũng bổ sung thêm trường hợp trình Quốc hội phê chuẩn thì điều ước quốc tế phải được thẩm tra về tính hợp hiến, sự cần thiết phải phê chuẩn, mức độ trái với quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành; yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm phap luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội để thực hiện điều ước quốc tế; khả năng áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế, việc tuân thủ trình tự, thủ tục đề xuất phê chuẩn điều ước quốc tế.

Chương III: Gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên.
Chương này quy định về trách nhiệm đề xuất; thẩm quyền, nội dung quyết định gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên; trình tự, thủ tục trình, quyết định gia nhập; hồ sơ trình về việc gia nhập; thông báo về việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên (thông báo đối ngoại, thông báo về hiệu lực cho các cơ quan trong nước).

So với Pháp lệnh năm 1998 thì đây là Chương mới được xây dựng trên tinh thần cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), theo đó gia nhập điều ước quốc tế là một hành vi pháp lý riêng biệt, làm phát sinh sự ràng buộc của điều ước quốc tế đối với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chương này gồm các quy định chi tiết về thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục, hồ sơ trình về việc gia nhập các điều ước quốc tế nhiều bên, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và yêu cầu tham gia các thể chế kinh tế, tài chính đa phương thông qua việc gia nhập các điều ước quốc tế nhiều bên.
Tại chương này Luật cũng bổ sung thêm việc phải trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trong trường hợp đề xuất gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên có điều khoản trái hoặc chưa được qui định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ( Điều 51); quy định rõ hơn thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ trình Quốc hội quyết định gia nhập điều ước quốc tếnhiều bên theo đề nghị của Chủ tịch nước.

Chương IV: Bảo lưu điều ước quốc tế nhiều bên.
Đây là một chương mới được xây dựng trên cơ sở một số quy định nguyên tắc của Pháp lệnh năm 1998. So với Pháp lệnh năm 1998, Chương này quy định mới về chấp nhận hoặc phản đối  bảo lưu do bên ký kết nước ngoài đưa ra; thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục, hồ sơ trình về bảo lưu, chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu, rút bảo lưu hoặc rút phản đối bảo lưu nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích của Việt Nam khi ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với trường hợp Việt Nam quyết định gia nhập một điều ước quốc tế nhưng không tham gia quá trình soạn thảo nội dung điều ước đó.

Chương V:  Hiệu lực,  áp dụng  tạm thời  toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế.
Chương này cũng được xây dựng mới so với Pháp lệnh năm 1998, quy định về hiệu lực của điều ước quốc tế; áp dụng tạm thời toàn bộ hoặc một phần, chấm dứt áp dụng tạm thời toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế và thông báo đối ngoại, thông báo cho cơ quan trong nước về việc này.

Chương VI: Lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, công bố, đăng ký điều ước quốc tế .
Chương này quy định về lưu chiểu, chức năng lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, công bố và đăng ký điều ước quốc tế. So với Pháp lệnh năm 1998, Chương này bổ sung thêm quy định về việc Việt Nam thực hiện chức năng lưu chiểu điều ước quốc tế nhiều bên.

Chương VII: Thực hiện điều ước quốc tế.
Chương này quy định về thẩm quyền phê duyệt trình tự, thủ tục xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế; thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và hồ sơ trình, thông báo về việc giải thích điều ước quốc tế; sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế; chấm dứt  hiệu lực, huỷ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện điều ước quốc tế.

Theo cách hiểu và thể hiện mới của Luật thì thực hiện điều ước quốc tế không chỉ là những gì liên quan trực tiếp đến việc thực hiện điều ước quốc tế đã được ký kết, gia nhập theo nghĩa truyền thống của Pháp lệnh năm 1998. Thực hiện điều ước quốc tế phải được xem xét như là một quá trình, trong đó có thể phát sinh những vấn đề cần thiết cần phải điều chỉnh trong một tổng thể thống nhất có liên quan chặt chẽ với nhau với phương châm một mặt bảo đảm thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam, mặt khác bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam không bị vi phạm.

Ngoài ra, vấn đề xây dựng kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế phải luôn gắn liền với việc tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, gắn với nhiệm vụ giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện điều ước quốc tế như giải thích điều ước quốc tế, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, tạm đình chỉ thực hiện điều ước quốc tế do vi phạm của bên ký kết nước ngoài… Do đó, Luật hình thành Chương thực hiện điều ước quốc tế gồm 4 mục sau:

Mục 1 - Kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế với 3 điều ( từ Điều 71 đến Điều 73);
Mục 2 - Giải thích điều ước quốc tế với 6 điều ( Từ Điều 74 đến Điều 79;
Mục 3 - Sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế với 5 điều( Từ Điều 80 đến Điều 84);
Mục 4 - Chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế với 12 điều ( Từ Điều 85 đến Điều 96);

Quy định như vậy nhằm tạo thuận lợi về mặt pháp lý bảo đảm cho các cơ quan có thẩm quyền tăng cường hơn nữa công tác quản lý về điều ước quốc tế, theo dõi, giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế, sơ kết, tổng kết, đánh giá và định kỳ báo cáo việc thực hiện các điều ước quốc tế lên Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ, đồng thời giao Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ về công tác này.

Chương VIII. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.
Chương này quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, của cơ quan đề xuất trong công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; trách nhiệm giám sát; phạm vi, chương trình giám sát; các hoạt động giám sát; thẩm quyền xem xét kết quả giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. 

So với Pháp lệnh năm 1998 Chương này cũng có thêm quy định về việc xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát như: Trả lời chất vấn ( Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chớnh phủ, Bộ trưởng và cỏc thành viờn khỏc của Chớnh phủ, Chỏnh ỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao); ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện điều ước quốc tế ( Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chớnh phủ, Thủ tướng Chớnh phủ, Toà ỏn nhõn dõn tối cao, Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao); Ra quyết định hoặc trỡnh Chủ tịch nước quyết định về việc sửa đổi, chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đỡnh chỉ thực hiện toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế cú dấu hiệu trỏi với Hiến phỏp ( Chính  phủ); áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm điều ước quốc tế; sửa đổi, bổ sung, đỡnh chỉ việc thi hành, bói bỏ toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế; xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế v.v… ( các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền);

Chương IX . Điều khoản thi hành.
Chương này quy định kinh phí cho việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; Điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành của Luật. Kinh phí ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ được đảm bảo từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn tài trợ khác.

Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được xây dựng trên tinh thần đổi mới cách thức xây dựng luật, pháp lệnh, không có lời mở đầu; không có chương Tổ chức thực hiện như các luật được xây dựng trước đây. Nội dung quản lý nhà nước về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được xây dựng thành 2 điều ( Điều 4 và Điều 5) và được ghép vào Chương I. Những nội dung đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác như : khen thưởng, kỷ luật, thanh tra không đưa vào Luật này.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm, 2006.  Khi Luật có hiệu lực thi hành, Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế được ban hành ngày 20 tháng 8 năm 1998 hết hiệu lực. Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Các tin trước
Luật Quản lý Thuế    (15/2/2008)
Luật Quốc phòng    (15/2/2008)
Bộ Luật Hàng hải    (15/2/2008)
Luật Công chứng    (15/2/2008)
Luật Trợ giúp pháp lý    (15/2/2008)
Luật Luật sư    (15/2/2008)
Luật Du lịch    (15/2/2008)
Luật Xuất bản    (15/2/2008)
Luật Dạy nghề    (15/2/2008)