Luật Bảo vệ và phát triển rừng
14:35' 15/2/2008
Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2005 và thay thế Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991.


I/ Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá VIII, tại Kỳ họp thứ 9, ngày 12 tháng 8 năm 1991 đã thông qua Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Đây là một trong những luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng, phát triển, khai thác và sử dụng rừng; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên; bảo tồn thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm; góp phần vào việc phòng chống thiên tai.

Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 đã hướng dẫn và thu hút mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng, phát triển rừng; tạo công ăn việc làm cho đồng bào sống ở vùng rừng, góp phần phát triển kinh tế và ổn định trật tự trị an xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Qua hơn mười năm thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tình trạng tàn phá rừng đã giảm, nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc đã được phủ xanh, nhiều khu rừng được phục hồi, nên diện tích đất có rừng đã tăng lên rõ rệt; độ che phủ của rừng tăng từ 28% (năm 1992) lờn 35,8% (năm 2002). Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2002, diện tích có rừng tự nhiên là 9,8 triệu hecta, diện tích có rừng trồng là 1,9 triệu hecta, diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn 7,35 triệu hecta.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đổi mới đất nước, tình hình phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, nhiều quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước và công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, cụ thể như sau:

1. Luật Bảo vệ và phát triển rừng được xây dựng trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Một số nội dung của Luật vẫn còn thể hiện tính nhà nước tập trung, bao cấp, chưa thể hiện quan điểm và tư tưởng chỉ đạo đổi mới của Đảng là chuyển mạnh từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp nhân dân; chịu ảnh hưởng nhiều của tư duy quản lý tập trung bao cấp, chỉ chú ý đến lâm nghiệp quốc doanh, chưa thực sự coi trọng và tạo điều kiện cho lâm nghiệp xã hội phát triển; nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra hiện nay đòi hỏi phải được quy định trong Luật để bảo đảm quản lý rừng bền vững như quyền sở hữu rừng, quyền sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng thuộc các thành phần kinh tế; phát triển kinh tế rừng; trong quá trình thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng những vấn đề mới đã phát sinh và trở thành những vấn đề nổi cộm cần được giải quyết như: vấn đề giao rừng cho cộng đồng thôn, bản quản lý để phù hợp với nhu cầu còng như phong tục tập quán của đồng bào dân tộc; vấn đề cho thuê rừng và đất lâm nghiệp; vấn đề xác định chủ rừng và quyền lợi, trách nhiệm của các chủ rừng; vấn đề triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng, trấn áp các hành vi phá hoại tài nguyên rừng, việc phá rừng trong vài năm gần đây đang có xu hướng gia tăng và có quy mô; việc kiện toàn hệ thống và đổi mới hoạt động của lực lượng kiểm lâm để đáp ứng yêu cầu bảo vệ và phát triển rừng bền vững.... Những vấn đề thực tiễn đặt ra hiện nay đòi hỏi phải được quy định trong Luật để bảo đảm cho việc quản lý và bảo vệ, phát triển rừng ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.

2. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay, Quốc hội đã ban hành nhiều luật mới như: Luật Tài nguyên nước; Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung vào các năm 1993, 1998, 2001 và gần đây nhất đã ban hành Luật Đất đai năm 2003); Bộ Luật Dân sự; Luật Thương mại; Luật Bảo vệ môi trường; Bộ Luật Hình sự; Luật Doanh nghiệp nhà nước; Luật Doanh nghiệp; Luật Phòng cháy, chữa cháy; Luật Di sản văn hoá; Bộ Luật Tố tụng hình sự và nhiều luật khác. Nội dung quy định trong các luật trên có nhiều điểm mới liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng.

3. Sau khi ban hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, từ thực tế yêu cầu quản lý và bảo vệ rừng, cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã ban hành nhiều văn bản dưới luật, thực thi có hiệu quả, sau hơn 10 năm thực hiện cần được rà soát, hệ thống hoá, pháp điển hoá quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao hơn, đáp ứng được yêu cầu của quản lý và phát triển rừng trong những năm tới.

4. Trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng của các cấp, các ngành cùng với bộ máy quản lý chuyên trách về rừng chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng  và cụ thể nên trong quá trình các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều chồng chéo, bỏ sót hoặc vận dụng một cách tuỳ tiện không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Mặt khác, các quy định trong Luật năm 1991 chưa có sức hấp dẫn để lôi cuốn mọi thành phần kinh tế- xã hội tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

5. Trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, nhiều vấn đề có tính toàn cầu đặt ra có liên quan đến Luật Bảo vệ và phát triển rừng như: tài nguyên nước; bảo vệ môi trường; xoá đói giảm nghèo; phát triển bền vững trong lâm nghiệp, nông nghiệp .... cần có sự hợp tác liên kết giữa các quốc gia để cùng giải quyết. 

Với các lý do nói trên, việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ và phát triển rừng là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội đặt ra; tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng; góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước; tạo môi trường và động lực rộng rãi ở lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng trong quá trình phát triển tổng thể kinh tế- xã hội của thời kỳ đổi mới mà Đảng và Nhà nước đã xác định.

II/ Quan điểm chỉ đạo việc soạn thảo, xây dựng Luật bảo vệ và phát triển rừng

Việc soạn thảo xây dựng Luật Bảo vệ và phát triển rừng quán triệt và tuân theo những quan điểm và tư tưởng chỉ đạo sau đây:

1. Quán triệt và kịp thời thể chế hoá chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, cụ thể hoá Hiến pháp, đồng bộ và thống nhất với Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật liên quan, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá.

2. Kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, bổ sung những quy định mới đáp ứng với những yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã  ký kết hoặc gia nhập, khắc phục sự tản mạn, trùng lặp, thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng. Cùng với các Luật được ban hành trong những năm gần đây tạo được một hệ thống pháp luật thống nhất, chất lượng cao và có tính khả thi.

3. Quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương trong việc bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời quy định rõ các quyền, nghĩa vụ của chủ rừng; tạo động lực kinh tế để thu hút mọi tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, phát triển rừng; góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho đồng bào sống ở vùng rừng núi và người lao động làm nghề rừng.

4. Luật Bảo vệ và phát triển rừng được ban hành phải đáp ứng được các yêu cầu của nước ta về hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế trong giai đoạn hiện nay.

III/ Bố cục và nội dung cơ bản trong các chương của Luật bảo vệ và phát triển rừng

1- Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng
a) Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng (sau đây gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); quyền và nghĩa vụ của chủ rừng.

b) Đối tượng áp dụng
 Luật này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam.
Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đã.

c) Một số nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng
Những nguyên tắc được ghi trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng là những quy định mang tính khái quát, những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong cả đạo luật bảo vệ và phát triển rừng, các nội dung tiếp sau chỉ là cụ thể hoá mang tính nội dung, kỹ thuật, hình thức của những nguyên tắc, quan điểm, tư tưởng này.

Ngoài ra còn các nguyên tắc chung khác như: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc kết hợp quản lý ngành, địa phương và vùng lãnh thổ...

Những nguyên tắc có tính đặc thù riêng, có tính chuyên môn, kỹ thuật sẽ được quy định cụ thể trong các chương. Thí dụ Điều 13 Chương II quy định nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; Điều 22 Chương II quy định nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; Điều 45 Chương IV quy định nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng phòng hộ; Điều 49 Chương IV quy định nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng đặc dụng; Điều 55 Chương IV quy định nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng sản xuất.

Điều 9 Luật Bảo vệ và phát triển rừng có quy định 5 nguyên tắc chung nhất, cụ thể như sau:
1. Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định.

2. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng.

3. Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng.

4. Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng.

5. Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác.

d) Nhà nước có chính sách cụ thể để bảo vệ và phát triển rừng
1. Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng gắn liền, đồng bộ với các chính sách kinh tế - xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, định canh định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi.

2. Nhà nước đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng giống quốc gia; bảo vệ và phát triển các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng hệ thống quản lý rừng hiện đại, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; xây dựng lực lượng chữa cháy rừng chuyên ngành; đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang bị phương tiện phục vụ chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng.

3. Nhà nước có chính sách hỗ trợ việc bảo vệ và làm giàu rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo, trồng rừng sản xuất gỗ lớn, gỗ quý, cây đặc sản; có chính sách hỗ trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng rừng nguyên liệu; có chính sách khuyến lâm và hỗ trợ nhân dân ở nơi có nhiều khó khăn trong việc phát triển rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ lâm sản.

4. Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc; ưu tiên phát triển trồng rừng nguyên liệu phục vụ các ngành kinh tế; mở rộng các hình thức cho thuê, đấu thầu đất để trồng rừng; có chính sách miễn, giảm thuế đối với người trồng rừng; có chính sách đối với tổ chức tín dụng cho vay vốn trồng rừng với lãi suất ưu đói, ân hạn, thời gian vay phù hợp với loài cây và đặc điểm sinh thái từng vùng.

5. Nhà nước có chính sách phát triển thị trường lâm sản, khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư để phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, làng nghề truyền thống chế biến lâm sản.

6. Nhà nước khuyến khích việc bảo hiểm rừng trồng và một số hoạt động sản xuất lâm nghiệp. 
  
đ) Những hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong Luật
1. Chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép.
2. Săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổđộng vật rừng trái phép.
3. Thu thập mẫu vật trái phép trong rừng.
4. Huỷ hoạitrái phép tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng.
5. Vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng.
6. Vi phạm quy định về phòng, trừ sinh vật hại rừng.
7. Lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng rừng trái phép.
8. Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp.
9. Vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái với quy định của pháp luật.
10. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
11. Chăn thả gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng, trong rừng mới trồng, rừng non.
12. Nuôi, trồng, thả vào rừng đặc dụng các loài động vật, thực vật không có nguồn gốc bản địa khi chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
13. Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, diễn biến tự nhiên của rừng; làm ảnh hưởng xấu đến đời sống tự nhiên của các loài sinh vật rừng; mang trái phép hoá chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng.
14. Giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng trái pháp luật.
15. Phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng.
16. Các hành vi khác xâm hại đến tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng.

2) Bố cục của Luật Bảo vệ và phát triển rừng
Luật Bảo vệ và phát triển rừng bao gồm 8 chương và 88 điều.                

Chương I. Những quy định chung
ChươngI gồm có 12 điều, từ Điều 1 đến Điều 12. Nội dung chương này quy định những vấn đề có tính cơ bản nhất, chung nhất xuyên suốt cả đạo luật. Các quy định trong các chương sau phải phù hợp không được mâu thuẫn hoặc trái với những điều quy định trong chương này. Nội dung cụ thể của Chương I quy định về: phạm vi điều chỉnh của luật là những vấn đề về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng; quy định những đối tượng được thực hiện áp dụng luật; quy định về những căn cứ để phân loại rừng; quy định về những tổ chức, đơn vị, cá nhân nào được coi là chủ rừng; quy định những quyền của Nhà nước đối với rừng; quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; những nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng; chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; quy định về nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng; quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong việc bảo vệ và phát triển rừng.

Đặc biệt trong Chương I của Luật Bảo vệ và phát triển rừng còn quy định một điều (Điều 3), đây là một điều mới, giải thích rõ 21 thuật ngữ được quy định trong luật để mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hiểu một cách thống nhất trong khi thực hiện theo các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 không có điều giải thích thuật ngữ, không nêu một thuật ngữ cụ thể nào.

Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng không quy định riêng một chương như Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (chương II- Quản lý nhà nước về rừng và đất trồng rừng), mà quy định 11 điểm nói về nội dung quản lý nhà nước tại Điều 8 của Luật. Đây còng là một trong những nội dung mới được xây dựng trên tinh thần đổi mới xây dựng và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật hiện nay. Chương II. Quyền của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng

Bao gồm 23 điều, từ Điều 13 đến Điều 35. Chương này được chia thành 5 mục.

Mục 1- Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Mục này có 9 điều (từ Điều13 đến Điều 21) quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; quy định những căn cứ, nội dung, kỳ và trách nhiệm lập quy hoạch, kế koạch bảo vệ và phát triển rừng; quy định thẩm quyền phê duyệt, quyết định xác lập các khu rừng và điều chỉnh quy hoạch, xác lập các khu rừng; công bố quy hoạch, kế hoạch và bảo vệ phát triển rừng.
Đặc biệt trong mục này có điều quy định về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng thuộc các cơ quan cụ thể là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tổ chức chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương và quy định cơ chế định kỳ ba năm một lần kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, hàng năm phải kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở các cấp.

Mục 2- Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng
Trong mục này có 7 điều (từ Điều 22 đến Điều 28) quy định về nguyên tắc, căn cứ và thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng. Quy định cụ thể về giao rừng, cho thuê rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất cho các đối tượng; quy định thu hồi rừng trong những trường hợp nào và chế độ chính sách cho các chủ rừng khi bị thu hồi rừng.

Mục 3- Giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng
 Mục này có 2 điều (Điều 29 và Điều 30), đây là điều mới và rất có ý nghĩa về mặt pháp lý. Quy định điều kiện để cộng đồng thôn được giao rừng, được giao những loại rừng nào; chỉ có Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có đủ thẩm quyền giao, thu hồi rừng đối với cộng đồng thôn. Quy định quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng.

Mục 4- Đăng ký quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng
 Mục này có 2 điều (Điều 31 và Điều 32) quy định việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng tài nguyên rừng. Nêu lên trách nhiệm của chủ rừng, cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Mục 5- Giá rừng
Mục này có 3 điều (từ Điều 33 đến Điều 35). Đây là một mục mới được quy định khá chi tiết về việc xác định và hình thành giá rừng; việc đấu giá quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; quy định giá trị quyền sử dụng rừng...để phục vụ cho việc đấu giá, tính vào giá trị tài sản, ghi vào giá trị vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp, xác định lại giá trị quyền sử dụng rừng khi cổ phần hoá doanh nghiệp ....

Chương III. Bảo vệ rừng
Bao gồm 8 điều, từ Điều 36 đến Điều 44. Chương này được chia thành 2 mục.

Mục 1- Trách nhiệm bảo vệ rừng
Mục này có 4 điều (từ Điều 36 đến Điều 39).
Trách nhiệm bảo vệ rừng được xác định trong luật là trách nhiệm của toàn dân (Điều 36):
Cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ rừng theo quy định của Luật này, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động trong rừng, ven rừng có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ rừng; thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chủ rừng về cháy rừng, sinh vật gây hại rừng và hành vi vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng; chấp hành sự huy động nhân lực, phương tiện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xảy ra cháy rừng.
Điều 37, 38, 39 quy định nội dung cụ thể, chi tiết trách nhiệm bảo vệ rừng của các chủ rừng, của Uỷ ban nhân dân các cấp và của các bộ, cơ quan ngang bộ.

Mục 2- Nội dung bảo vệ rừng

Mục này có 5 điều (từ Điều 40 đến Điều 44) quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình ảnh có hưởng đến hệ sinh thái phải tuân theo các quy định của Nhà nước. Việc khai thác thực vật rừng phải thực hiện theo quy chế quản lý rừng; việc săn, bắt, bẫy, nuôi nhốt động vật rừng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã; việc quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt đối với những loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Quy định phương án về phòng cháy, chữa cháy rừng để bảo vệ rừng. Việc phòng trừ sinh vật gây hại rừng, quy định trách nhiệm cụ thể của chủ rừng và cơ quan bảo vệ, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật. Quy định về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng.
Trong chương quy định trách nhiệm của chủ rừng trong việc bảo vệ rừng đã được đề cao hơn trước. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc phối hợp xây dựng và chỉ đạo thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn. Mọi đối tượng phải tuân thủ pháp luật về phòng cháy, chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra.

Chương IV. Phát triển rừng, sử dụng rừng
Chương này gồm 14 điều, từ Điều 45 đến Điều 58 và được chia làm 3 mục, đó là: Mục 1-  Rừng phòng hộ

Mục này có 4 điều (từ Điều 45 đến Điều 48).
Nội dung mục này quy định những nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng phòng hộ, đối với rừng phòng hộ đầu nguồn phải được xây dựng thành rừng tập trung, liền vùng, nhiều tầng; xây dựng thành các đai rừng phù hợp với điều kiện tự nhiên ở từng vùng để có hiệu quả đối với rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường và các quy định trong việc khai thác các lợi ích khác của rừng phòng hộ như: kết hợp sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái- môi trường, khai thác lâm sản và các lợi ích khác của rừng phòng hộ phải tuân theo quy chế quản lý rừng. Quy định tổ chức quản lý rừng phòng hộ; việc quản lý, sử dụng rừng sản xuất và đất đai xen kẽ trong rừng phòng hộ và việc khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ.

Mục 2- Rừng đặc dụng
Mục này gồm 6 điều (từ Điều 49 đến Điều 54)
Nội dung mục này quy định nguyên tắc phát triển và sử dụng rừng đặc dụng là: bảo đảm việc phát triển tự nhiên của rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan khu rừng; xác định rõ trong khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, vùng đệm và phân khu dịch vụ- hành chính; mọi hoạt động ở khu rừng đặc dụng phải tuân theo quy chế quản lý rừng và phải được phép của chủ rừng. Các quy định về tổ chức quản lý rừng, khai thác lâm sản, hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy thực tập, hoạt động kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch, sinh thái – môi trường và ổn định đời sống dân cư sống trong khu rừng đặc dụng và vùng đệm cũng đã được quy định khá đầy đủ, rõ ràng và chi tiết ở mục này.

Mục 3- Rừng sản xuất
Trong mục này có 4 điều (từ Điều 55 đến Điều 58) quy định về nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng sản xuất; quy định việc quản lý khi rừng sản xuất là rừng tự nhiên; việc quản lý khi rừng sản xuất là rừng trồng và quy định việc quy hoạch và chỉ đạo xây dựng hệ thống rừng giống quốc gia; việc bình tuyển rừng giống, công nhận rừng giống, việc sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp... Nhiều nội dung rất quan trọng quy định về rừng sản xuất đã được quy định ở mục này để phục vụ cho việc quản lý, trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, khai thác, sử dụng, bảo đảm diện tích, phát triển kinh tế lâm- nông- ngư nghiệp kết hợp....

Chương V. Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng

Đây không phải là chương mới nhưng được đầu tư xây dựng khá đầy đủ, rõ ràng và cụ thể. Từ đã, các chủ rừng nắm vững được quyền và nghĩa vụ của mình đối với từng loại rừng để có kế hoạch thực hiện đầu tư theo khả năng của mình nhằm phát triển kinh tế rừng, nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống, góp phần bảo vệ và phát triển rừng, góp phần tăng thêm diện tích che phủ của rừng, góp phần thực hiện mục tiêu của công cuộc đổi mới trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. 
Chương này gồm có 20 điều, từ Điều 59 đến Điều 78 và được chia làm 5 mục quy định các vấn đề sau: 

Mục 1- Quy định chung về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Mục này có 2 điều (Điều 59 và Điều 60).     
a) Điều 59 của Luật bảo vệ và phát triển rừng quy định chủ rừng có các quyền cơ bản sau đây: được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao, được thuê; được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất; được phát triển kinh tế kết hợp lâm- nông- ngư nghiệp (trừ rừng đặc dụng); được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao; được thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác; được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái – môi trường theo dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi có quyết định thu hồi rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; được hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại.

b) Điều 60 của Luật bảo vệ và phát triển rừng quy định những nghĩa vụ chung của chủ rừng: bảo toàn vốn rừng, sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao, cho thuê rừng và tuân theo quy chế quản lý rừng; tổ chức bảo vệ rừng và phát triển rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự án, phương án đã được phê duyệt; định kỳ báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này; giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử dụng rừng; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; thực hiện quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.

Mục 2- Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ
Mục này gồm 2 điều (Điều 61 và Điều 62).
a) Chủ rừng là ban quản lý rừng đặc dụng có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 59 và 60 của Luật này; được khoán bảo vệ rừng theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và quy định của Chính phủ; được cho các tổ chức kinh tế thuê cảnh quan để kinh doanh du lịch sinh thái – môi trường theo dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; được tiến hành hoặc hợp tác với tổ chức, nhà khoa học trong việc nghiên cứu khoa học theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy bảo vệ khu rừng; lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt phương án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện phương án đã được duyệt.

b) Chủ rừng là ban quản lý rừng phòng hộ có các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 59, 60 và 61 của Luật này; được khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ theo quy định tại Điêu 47 của Luật này; được khai thác lâm sản theo quy định tại khoản 2 Điều 55, điểm b và điểm d khoản 2, điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 56, khoản 2 Điều 57 của Luật này đối với diện tích rừng sản xuất xen kẽ trong khu rừng phòng hộ được giao cho Ban quản lý khu rừng phòng hộ.

Mục 3- Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là tổ chức kinh tế
Mục này có 6 điều (từ Điều 63 đến Điều 68).
Chủ rừng là tổ chức kinh tế có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 59, Điều 60 của Luật này. Ngoài ra còn quy định cụ thể tại mục này (từ Điều 63 đến Điều 68) khi Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng giống không thu tiền sử dụng rừng; khi Nhà nước giao rừng sản xuất có thu tiền sử dụng rừng, nhận chuyển nhượng rừng sản xuất; khi được Nhà nước giao rừng phòng hộ; cho thuê rừng sản xuất; cho thuê rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan; khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để trồng rừng. Có thể nói, tại mục này Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định rất chi tiết, đầy đủ, có phân loại tính chất của từng loại rừng đối với chủ rừng là tổ chức kinh tế.

Mục 4- Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân
Mục này có 4 điều (từ Điều 69 đến Điều 72).
Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân có các quyền quy định tại Điều 59, 60 của Luật này; ngoài ra còn có các quyền và nghĩa vụ khi được Nhà nước giao rừng phòng hộ, khi được Nhà nước giao rừng sản xuất, khi được Nhà nước thuê rừng sản xuất, khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để trồng rừng.

Những quy định tại các điều 69, 70, 71, 72 của Luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm khuyến khích các hoạt động về rừng cho hộ gia đình và cá nhân, đẩy mạnh kinh tế rừng để cải thiện đời sống nhân dân, động viên được tiền vốn trong dân, lao động dôi thừa và phát huy các nguồn lực trong nhân dân để bảo vệ và phát triển rừng. Đây còng là sự thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới ở lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, xã hội hoá nghề rừng. Chính những quy định rõ ràng, cụ thể này sẽ động viên được toàn dân cùng bảo vệ rừng, trồng rừng mới, chăm sóc rừng tốt hơn, coi rừng như tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để ngày càng tăng diện tích rừng che phủ.

Mục 5- Quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng khác.
Mục này có 6 điều (từ Điều 73 đến Điều 78) quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là đơn vị vũ trang nhân dân; là tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp; là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để trồng rừng sản xuất theo dự án đầu tư; là tổ chức cá nhân nước ngoài được Nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng; là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất theo dự án đầu tư. Những quy định ở mục này thể hiện rất rõ chủ trương xã hội hoá nghề rừng ở nước ta trong những năm tới đây, phát huy nguồn vốn và nhân lực trong và ngoài nước để đầu tư cho phát triển kinh tế rừng, thể hiện sự cụ thể hoá về hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là ở lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước ta. Những chủ thể là người nước ngoài được hoạt động phát triển kinh tế rừng ở nước ta phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản pháp luật khác có liên quan, được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trong hoạt động phát triển kinh tế rừng.

Chương VI. Kiểm lâm
Chương này gồm 5 điều, từ điều 79 đến Điều 83. So với Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 tăng thêm 2 điều.
          Kiểm lâm được xác định là lực lượng chuyên trách của Nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
          Tổ chức lực lượng kiểm lâm cũng được xác định rõ trong Luật là được tổ chức theo hệ thống thống nhất, bao gồm: kiểm lâm trung ương; kiểm lâm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; kiểm lâm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
          Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, hệ thống tổ chức, cơ chế hoạt động, cơ chế phối hợp giữa kiểm lâm các cấp với tổ chức có liên quan ở địa phương; tiêu chuẩn, chức danh của công chức kiểm lâm; các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn về trang bị đồng phục, phù hiệu, cấp hiệu, cờ hiệu, giấy chứng nhận kiểm lâm; trang bị vũ khí chuyên dụng, công cụ hỗ trợ và các phương tiện chuyên dùng; lương, phụ cấp ưu đói nghề, chế độ thương binh, liệt sỹ và các chế độ đãi ngộ khác cho kiểm lâm.

          Chương này còn dành 3 điều cụ thể để quy định về nhiệm vụ của kiểm lâm với 8 nhiệm vụ chủ yếu là: xây dựng chương trình, kế hoạch bảo vệ rừng, phương án phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; hướng dẫn chủ rừng lập và thực hiện phương án bảo vệ rừng; bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ rừng cho chủ rừng; kiểm tra, kiểm soát việc bảo vệ rừng, khai thác rừng, sử dụng rừng, lưu thông, vận chuyển, kinh doanh lâm sản; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xây dựng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng; tổ chức dự báo nguy cơ cháy rừng và tổ chức lực lượng chuyên ngành phòng cháy, chữa cháy rừng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng khi rừng bị người khác xâm hại; tổ chức việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trọng điểm; thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng và kiểm soát kinh doanh, buôn bán thực vật rừng, động vật rừng.

Trong khi thi hành nhiệm vụ, kiểm lâm có quyền yêu cầu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra và điều tra; tiến hành kiểm tra hiện trường, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật; xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính, khởi tố, điều tra hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự và pháp luật về tố tụng hình sự; được sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Điều 83 quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong quá trình chỉ đạo, điều hành lực lượng kiểm lâm.

Chương VII. Giải quyết tranh chấp, xử lý vi pham  pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
Chương này gồm 3 điều, từ Điều 84 đến Điều 86. Nội dung chương này quy định: những tranh chấp về quyền sử dụng rừng đối với các loại rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng do Toà án nhân dân giải quyết.
Các tranh chấp về đất đai có liên quan đến rừng còng do Toà án nhân dân giải quyết.
Các vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng; những vi phạm của cán bộ, công chức về bảo vệ và phát triển rừng sẽ tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong Luật còn quy định một điều (Điều 86) về bồi thường thiệt hại khi tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng mà gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì ngoài việc bị xử lý tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm theo Điều 85 của Luật này, còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Chương VIII. Điều khoản thi hành
Chương này có 2 điều, Điều 87 và Điều 88. Quy định Luật này có hiệu lực từ ngày 01/4/2005. Luật này thay thế Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991. Chính phủ được giao quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

IV/ Tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng

          Ngày 14/12/2004, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 25/2004/L-CTN công bố Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Đây là một đạo luật quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường bên vững và phát triển kinh tế rừng; góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ đổi mới.
          Để thực sự tạo được một bước chuyển biến mới trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, thiết thực đưa luật vào cuộc sống, đưa công tác bảo vệ và phát triển rừng đi vào nền nếp, kỷ cương, cần tập trung tổ chức thực hiện một số công việc sau:

1/ Tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Cụ thể là những điểm chủ yếu sau:
a) Khẩn trương chuẩn bị các điều kiện để thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng;
b) Tổ chức thực hiện tốt Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tạo ra những chuyển biến rõ rệt về quản lý và sử dụng rừng;
c) Làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý và sử dụng rừng.

2/ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và phát triển rừng và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức quán triệt rộng rãi trong nhân dân, nhất là đối với các đối tượng có liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Nội dung là những vấn đề cơ bản và những điểm mới so với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991.

3/ Các cơ quan quản lý chuyên môn về bảo vệ và phát triển rừng có kế hoạch quán triệt và tập huấn, nghiên cứu kỹ nội dung trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng để thực hiện cho tốt trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đặc biệt cần nghiên cứu kỹ nội dung để tránh hiểu sai, hiểu lầm những nội dung quy định cụ thể trong Luật, tạo sự thống nhất chung về nhận thức giữa đối tượng tuân thủ pháp luật và thực hiện áp dụng pháp luật.

4/ Rà soát các văn bản có liên quan để phát hiện những văn bản không còn phù hợp và soạn thảo, ban hành theo đúng tiến độ các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng để có hệ thống pháp luật về rừng đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi cao, nhất là Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng./.

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Tài nguyên - Môi trường
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết


Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Cạnh tranh    (15/2/2008)
Luật Đường sắt    (15/2/2008)
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Các tin trước
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)
Luật Quản lý Thuế    (15/2/2008)
Luật Quốc phòng    (15/2/2008)
Bộ Luật Hàng hải    (15/2/2008)
Luật Công chứng    (15/2/2008)
Luật Trợ giúp pháp lý    (15/2/2008)