Luật hàng không dân dụng Việt Nam
14:36' 15/2/2008
Luật hàng không dân dụng Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1991 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 1995 (sau đây gọi chung là Luật năm 1991). Kể từ khi có hiệu lực đến nay, Luật năm 1991 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hàng không dân dụng; tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành hàng không dân dụng, góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.


I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG VIỆT NAM

1. Đánh giá tác động của Luật hàng không dân dụng Việt Nam 
          Luật hàng không dân dụng Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1991 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 1995 (sau đây gọi chung là Luật năm 1991). Kể từ khi có hiệu lực đến nay, Luật năm 1991 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hàng không dân dụng; tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành hàng không dân dụng, góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.

Qua 14 năm thực hiện Luật năm 1991, đã đạt được những kết quả sau đây:
-  Tạo hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hàng không dân dụng và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về hàng không dân dụng.
Luật năm 1991 và hệ thống văn bản dưới luật đã điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các hoạt động về vận tải, tàu bay, tổ bay, cảng hàng không, sân bay, hoạt động bay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thanh tra an toàn hàng không, bảo đảm an ninh hàng không, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp hàng không. Luật năm 1991 đã tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia hoạt động hàng không dân dụng tại Việt Nam. Hiệu lực áp dụng của Luật hàng không dân dụng Việt Nam đã tác động lớn đến việc hoàn thiện hệ thống tổ chức của ngành hàng không dân dụng Việt Nam và thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước về hàng không dân dụng trong phạm vi cả nước. 

-  Góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam
Trong 14 năm qua, hệ thống cảng hàng không, sân bay đã được đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới theo hướng hiện đại hóa. Chất lượng cung cấp dịch vụ ngày càng tốt. Lưu lượng hành khách thông qua các cảng hàng không tăng bình quân 18,4%/năm. 
Phương tiện bay được đổi mới và hiện đại hoá, đội tàu bay bao gồm các loại B777, B767, A320, A321, Fokker 70, ATR 72 đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng không quốc tế và nội địa.
Mạng đường bay ngày càng được mở rộng. Cho đến nay đã có 40 đường bay, bao gồm 37 đường bay trực tiếp và các đường bay liên danh từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đến 25 thành phố trên thế giới.
Các hãng hàng không Việt Nam đã được hình thành và ngày càng lớn mạnh, năng lực vận chuyển và cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không được nâng cao; sản lượng vận chuyển hành khách, hàng hoá không ngừng tăng lên, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 19,6% đối với vận chuyển hành khách và 19,7% đối với vận chuyển hàng hoá.
Trang thiết bị quản lý và điều hành bay đã được hiện đại hoá một bước để đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ quản lý và điều hành các chuyến bay trong vùng trời Việt Nam và vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý. 

-  Tạo lập được những điều kiện cần thiết để ngành hàng không dân dụng Việt Nam chủ động trong việc tham gia vào hoạt động hàng không quốc tế và đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Luật năm 1991 đã tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam gia nhập 11 điều ước quốc tế đa phương về hàng không dân dụng và ký kết 41 Hiệp định vận chuyển hàng không song phương.

-  Đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước.
Luật năm 1991 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo điều kiện để phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay, mạng đường bay, phương tiện, trang thiết bị quản lý điều hành bay, đã thiết lập cầu hàng không giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, giữa Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng với các khu vực kinh tế khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam để đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, góp phần bảo vệ chủ quyền, thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia.
         
2. Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung của Luật năm 1991
Bên cạnh những thành tích đã đạt được có sự đóng góp của Luật năm 1991, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống pháp luật Việt Nam, sự phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam và thế giới, cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đã phát sinh một số vấn đề mới và cũng bộc lộ một số hạn chế của Luật năm 1991 cần phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời:

2.1. Những nội dung không còn phù hợp với thực tế Việt Nam và thông lệ quốc tế cần sửa đổi như:  hợp đồng lao động thuê nhân viên bay chuyên nghiệp; thanh tra an toàn hàng không và bảo đảm an ninh hàng không; tạm giữ tàu bay dân dụng; giá cước; giới hạn trách nhiệm dân sự; sử dụng đồng đô la Mỹ làm đơn vị tính toán trong giải quyết bồi thường thiệt hại; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp.

2.2. Những nội dung cần bổ sung để phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về hàng không dân dụng mà Việt Nam là thành viên như:
+  Chính sách phát triển hàng không dân dụng, bảo vệ môi trường trong hoạt động hàng không dân dụng.
+  Thuê và cho thuê tàu bay dân dụng; chuyển giao nghĩa vụ giữa quốc gia đăng ký tàu bay và quốc gia khai thác tàu bay khi sử dụng tàu bay thuê; yêu cầu đối với xuất khẩu, nhập khẩu tàu bay dân dụng, động cơ, cánh quạt, phụ tùng tàu bay dân dụng; đình chỉ chuyến bay, khám xét tàu bay, yêu cầu tàu bay hạ cánh bắt buộc tại cảng hàng không, sân bay chỉ định.
+  Phân loại, quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay; điều kiện thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của doanh nghiệp cảng hàng không; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay; giới hạn khu vực lân cận cảng hàng không, sân bay.
+  Chứng chỉ, giấy phép của nhân viên hàng không; đào tạo, huấn luyện nhân viên hàng không.
+ Tổ chức sử dụng vùng trời; cơ sở điều hành bay; bảo đảm tĩnh không; hệ thống kỹ thuật, trang bị, thiết bị quản lý bay dân dụng, các dịch vụ hỗ trợ hoạt động bay.
+  Vận chuyển theo hợp đồng và vận chuyển thực tế; đơn giản hóa thủ tục trong vận chuyển hàng không; vận chuyển hỗn hợp; vận chuyển quốc tế kết hợp nhiều điểm tại Việt Nam; hàng không chung.

2.3. Những nội dung chưa rõ cần được quy định cụ thể như phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; nguyên tắc hoạt động hàng không dân dụng; điều kiện đăng ký quốc tịch tàu bay dân dụng Việt Nam; bắt giữ tàu bay dân dụng; tổ bay; tìm kiếm - cứu nạn và điều tra tai nạn tàu bay; thành lập, giải thể hãng hàng không; vận chuyển hàng hóa, hành khách, hành lý.

2.4. Những nội dung còn chồng chéo, lẫn lộn, cần được phân định rõ như trách nhiệm quản lý nhà nước về hàng không dân dụng, quản lý hoạt động bay.
Ngoài ra, một số thuật ngữ, từ ngữ, khái niệm cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho rõ ràng, chính xác như khái niệm về hoạt động hàng không dân dụng, vận chuyển nội địa, vận chuyển quốc tế, hãng hàng không, khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, khu vực nguy hiểm, người khai thác tàu bay, người vận chuyển, tĩnh không, thành viên tổ bay, thành viên tổ lái, công tác không lưu, công tác không báo.

II. QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG VIỆT NAM

1. Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng về phát triển ngành hàng không dân dụng Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập của ngành hàng không dân dụng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2. Bảo đảm tính phù hợp với Hiến pháp và thống nhất với các văn bản pháp luật hiện hành trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
3. Bảo đảm tính kế thừa Luật năm 1991, chỉ sửa đổi, bổ sung những nội dung chưa được điều chỉnh hay quy định chưa rõ hoặc thiếu thống nhất; bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với thực tế và xu thế phát triển, hội nhập của ngành hàng không dân dụng Việt Nam; luật hóa một số quy định liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng đã được quy định trong các văn bản dưới luật.
4. Bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, phù hợp với tập quán quốc tế và xu thế phát triển pháp luật về hàng không dân dụng quốc tế .

III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sau đây gọi chung là Luật năm 2006) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006. Luật gồm 10 chương, 202 điều (Luật 1991 chỉ có 112 điều), trong đó số lượng các điều mới là 126, số điều được sửa đổi là 45 và số điều được giữ nguyên là 31.
Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.
Một số nội dung mới đã được bổ sung như: thuê, cho thuê tàu bay; quy hoạch, đầu tư, quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay; quản lý đất cảng hàng không, sân bay; cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay; dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; bảo đảm an ninh hàng không và hoạt động hàng không chung.

1.Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 12)
Chương này quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các nguyên tắc hoạt động hàng không dân dụng, chính sách phát triển hàng không dân dụng, bảo vệ môi trường trong hoạt động hàng không dân dụng, áp dụng pháp luật, nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật, trách nhiệm quản lý nhà nước về hàng không dân dụng, thanh tra hàng không, các hành vi bị cấm trong hoạt động hàng không dân dụng và phí, lệ phí, giá dịch vụ hàng không.

So với Luật năm 1991, Luật năm 2006 có những thay đổi như sau:
- Quy định rõ hơn về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, đó là: quy định về tàu bay, cảng hàng không, sân bay, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận chuyển hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự, hoạt động hàng không chung và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 không quy định về hoạt động của tàu bay công vụ, bao gồm tàu bay quân sự, tàu bay chuyên dụng của lực lượng hải quân, công an và các tàu bay khác sử dụng cho mục đích công vụ nhà nước, trừ trường hợp tàu bay công vụ được dùng vào mục đích dân dụng hoặc những trường hợp khác được Luật hàng không dân dụng Việt Nam quy định. 
- Quy định rõ và bổ sung một số nguyên tắc trong hoạt động hàng không dân dụng như tôn trọng độc lập chủ quyền, tăng năng lực cạnh tranh; có quy định về chính sách để tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia vào hoạt động hàng không dân dụng.
- Bổ sung một số điều mới quy định về giải thích từ ngữ, Thanh tra hàng không và các hành vi bị cấm trong hoạt động hàng không dân dụng.
Việc bổ sung, sửa đổi các quy định của Chương I được thực hiện trên cơ sở tham khảo các Luật hiện hành và Công ước về hàng không dân dụng quốc tế năm 1944 (Công ước Chi-ca-go 1944).

2.Tàu bay (từ Điều 13 đến Điều 46)
Quy định quốc tịch tàu bay, tiêu chuẩn đủ điều kiện bay, khai thác tàu bay, quyền đối với tàu bay, thuê và cho thuê tàu bay, đình chỉ thực hiện chuyến bay, tạm giữ, bắt giữ tàu bay.

So với Luật năm 1991, Luật năm 2006 có những thay đổi như sau:
- Bỏ quy định về thời hạn tạm giữ tàu bay.
- Quy định cụ thể hơn về điều kiện đăng ký quốc tịch tàu bay dân dụng Việt Nam, tạm giữ, bắt giữ tàu bay dân dụng.
- Bổ sung quy định về yêu cầu đối với việc đưa tàu bay dân dụng vào khai thác thương mại; điều kiện cấp giấy chứng nhận người khai thác tàu bay, trách nhiệm của người khai thác tàu bay; quản lý tiêu chuẩn đủ điều kiện bay của tàu bay, các quyền và đăng ký các quyền đối với tàu bay dân dụng, tàu bay dân dụng được giao cho doanh nghiệp nhà nước quản lý khai thác, thuê hoặc cho thuê tàu bay dân dụng; chuyển giao nghĩa vụ giữa quốc gia đăng ký tàu bay và quốc gia khai thác tàu bay khi sử dụng tàu bay thuê; yêu cầu đối với xuất khẩu, nhập khẩu tàu bay dân dụng, động cơ, cánh quạt, phụ tùng tàu bay dân dụng; đình chỉ chuyến bay, khám xét tàu bay, yêu cầu tàu bay hạ cánh bắt buộc tại cảng hàng không, sân bay chỉ định.

Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Chương 2 trên cơ sở tham khảo Công ước Chi-ca-go 1944, Công ước về công nhận các quyền đối với tàu bay năm 1948 (Công ước Giơ-ne-vơ 1948), Công ước về thống nhất một số quy tắc về bắt giữ phòng ngừa tàu bay năm 1933 (Công ước Rô-ma 1933), Luật hàng không mẫu của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO).

3.Cảng hàng không, sân bay (từ Điều 47 đến Điều 67)
Chương 3 quy định về quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay và quản lý nhà nước tại cảng hàng không, sân bay. 

So với Luật 1991, Luật 2006 có những thay đổi như sau:
- Quy định cụ thể hơn về giới hạn khu vực lân cận cảng hàng không, sân bay.
- Bổ sung quy định về phân loại, quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay; điều kiện thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của doanh nghiệp cảng hàng không, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay.
Theo Luật năm 2006, cảng hàng không, sân bay được phân loại thành cảng hàng không quốc tế, cảng hàng không nội địa và sân bay chuyên dùng với mục đích để quản lý vận chuyển và quản lý khai thác; quy định trách nhiệm trong việc tổ chức quản lý khai thác. Do đặc thù của cảng hàng không, sân bay nên đòi hỏi phải có quy định riêng về doanh nghiệp cảng hàng không. Doanh nghiệp cảng hàng không là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện tổ chức khai thác cảng hàng không, sân bay (Điều 63 Luật hàng không dân dụng năm 2006).

Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Chương này trên cơ sở tham khảo Công ước Chi-ca-go 1944, Luật hàng không dân dụng của một số quốc gia khác.

4.Nhân viên hàng không (từ Điều 68 đến Điều 78)
Quy định về điều kiện chung của nhân viên hàng không; tổ bay; người chỉ huy tàu bay; chế độ lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên tổ bay.
So với Luật năm 1991, Luật năm 2006 đã bổ sung, sửa đổi quy định về nhân viên hàng không; tổ bay.
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Chương này trên cơ sở tham khảo Công ước Chi-ca-go 1944, Luật hàng không dân dụng của một số quốc gia khác và tài liệu của ICAO.

5.  Hoạt động bay (từ Điều 79 đến Điều 108)
Quy định về quản lý hoạt động bay, dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, tìm kiếm, cứu nạn và điều tra sự cố, tai nạn tàu bay.

So với Luật năm 1991, Luật năm 2006 có những thay đổi như sau:
- Quy định cụ thể hơn về việc tìm kiếm, cứu nạn và điều tra sự cố, tai nạn tàu bay.
- Bổ sung quy định về tổ chức, sử dụng vùng trời, cơ sở điều hành bay, bảo đảm tĩnh không, hệ thống kỹ thuật, trang bị, thiết bị quản lý bay dân dụng, các dịch vụ hỗ trợ hoạt động bay, giá, phí quản lý hoạt động bay.
Các quy định của Chương này đã làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan trong việc quản lý vùng trời.
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Chương này trên cơ sở tham khảo Công ước Chi-ca-go 1944, Luật hàng không dân dụng của một số quốc gia khác.
         
6.  Vận chuyển hàng không (từ Điều 109 đến Điều 159)
Chương này quy định về doanh nghiệp vận chuyển hàng không, khai thác vận chuyển hàng không, vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá bằng đường hàng không, vận chuyển theo hợp đồng và vận chuyển thực tế.
So với Luật năm 1991, Luật năm 2006 có những thay đổi như sau:
- Quy định rõ về thành lập hãng hàng không Việt Nam, vận chuyển hàng hoá, hành khách, hành lý.
- Bổ sung quy định về khai thác vận chuyển hàng không, vận chuyển theo hợp đồng và vận chuyển thực tế, đơn giản hoá thủ tục trong vận chuyển hàng không, vận chuyển hỗn hợp, vận chuyển quốc tế kết hợp nhiều điểm tại Việt Nam.
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Chương này trên cơ sở tham khảo  Công ước thống nhất một số quy tắc về vận chuyển hàng không quốc tế năm 1999 (Công ước Môn-rê-an 1999) và luật mới ban hành của Liên minh Châu Âu.

7.  Trách nhiệm dân sự (từ Điều 160 đến Điều 189)
Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển trong trường hợp để xảy ra thiệt hại đối với hành khách, hành lý, hàng hoá, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba ở mặt đất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tàu bay va chạm hoặc gây cản trở nhau.

So với Luật năm 1991, Luật năm 2006 có những thay đổi như sau:
- Bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển.
- Quy định cụ thể mức giới hạn trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không. Sử dụng đơn vị tính toán là Quyền rút vốn đặc biệt (viết tắt tiếng Anh là SDR) thay cho việc sử dụng đồng đô la Mỹ theo Luật năm 1991 để tính mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển và người khai thác tàu bay; giao Chính phủ điều chỉnh mức giới hạn trách nhiệm dân sự trong trường hợp cần thiết để phù hợp với quy định thay đổi mức giới hạn trách nhiệm dân sự theo Công ước Môn-rê-an năm 1999.
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Chương này trên cơ sở tham khảo Công ước Môn-rê-an 1999, Công ước về bồi thường thiệt hại do tàu bay nước ngoài gây ra cho người thứ ba ở mặt đất năm 1952 (Công ước Rô-ma 1952), Nghị định thư bổ sung, sửa đổi Công ước về bồi thường thiệt hại do tâu bay nước ngoài gây ra cho người thứ ba ở mặt đất năm 1978 (Nghị định thư Môn-rê-an 1978). 
          
8.  An ninh hàng không (từ Điều 190 đến Điều 197)
Quy định về hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng, các biện pháp bảo đảm an ninh hàng không, nhân viên an ninh hàng không, chương trình an ninh hàng không dân dụng, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về bảo đảm an ninh hàng không khi tham gia hoạt động hàng không dân dụng.

So với Luật năm 1991, đây là 1 Chương mới được bổ sung, quy định các nội dung để phù hợp với tình hình thực tế.
Chương này được xây dựng trên cơ sở tham khảo Phụ lục 17 Công ước Chi-ca-go 1944, Công ước về sự phạm tội và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay năm 1963 (Công ước Tô-ky-ô 1963), Công ước nhằm ngăn chặn chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay năm 1970 (Công ước La-hay 1970), Công ước về ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng năm 1971 (Công ước Môn-rê-an 1971) và Luật hàng không dân dụng của một số quốc gia khác.
 
9.  Hàng không chung (từ Điều 198 đến Điều 201)
Đây là một Chương mới bổ sung, quy định về điều kiện đối với tổ chức, cá nhân hoạt động hàng không chung. Đó là hoạt động hàng không phục vụ cho những yêu cầu đặc biệt, trong đó có hoạt động bay tư nhân; thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động hàng không chung thông qua việc đăng ký các loại hình dịch vụ hàng không chung và cấp phép cho hoạt động hàng không chung vì mục đích thương mại; hợp đồng cung cấp dịch vụ hàng không chung; bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động hàng không chung.

10.  Điều khoản thi hành (Điều 202)
Quy định Luật năm 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 và thay thế Luật hàng không dân dụng Việt Nam 1991, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam  1995.
Về nội dung, Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 có một số điểm mới cơ bản sau đây so với Luật hàng không dân dụng Việt Nam 1991:

Thứ nhất, Luật 2006 đã thể hiện tính toàn diện, đồng bộ và phù hợp, phân định rõ ràng chức năng quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh trong hoạt động hàng không dân dụng, điều chỉnh tất cả các lĩnh vực hoạt động hàng không dân dụng, phù hợp với các quy định cơ bản của các Bộ luật, Luật có liên quan được ban hành từ sau năm 1990. Các quy định của Luật hàng không dân dụng phản ánh đúng trình độ phát triển, khả năng thực tế và đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành hàng không dân dụng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứ hai, Luật năm 2006 ghi nhận và cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động và đầu tư hàng không dân dụng, xoá bỏ chính sách bảo hộ trong lĩnh vực hàng không đân dụng.

Thứ ba, Luật năm 2006 đã tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện hội nhập quốc tế có tính đến các yếu tố và xu hướng điều tiết ở phạm vi khu vực và toàn cầu, chuyển hoá các quy phạm điều ước và quy phạm tập quán quốc tế về hàng không dân dụng vào luật quốc gia, bảo đảm sự hài hoà của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về hàng không dân dụng.

Thứ tư, Luật năm 2006 bảo đảm yêu cầu về tính công khai, minh bạch, kỹ thuật lập pháp. Các điều kiện về kinh doanh, cấp phép, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ được quy định rõ ràng, cụ thể, giảm thiểu các quy định cần phải ban hành hướng dẫn thi hành luật.

Tóm lại, Luật năm 2006 đã bảo đảm tính phù hợp, sự thống nhất với Hiến pháp và các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, kế thừa một số nội dung điều chỉnh của Luật năm 1991, bổ sung những nội dung chưa được Luật năm 1991 điều chỉnh, bãi bỏ các quy định có tính bảo hộ, không phù hợp với thực tiễn hoạt động hàng không dân dụng. Đồng thời Luật năm 2006 đã tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển và hội nhập quốc tế của ngành hàng không dân dụng Việt Nam.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để Luật hàng không dân dụng Việt Nam đi vào cuộc sống, Bộ Giao thông vận tải đang khẩn trương soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm có đầy đủ các văn bản cho việc thực hiện Luật vào thời điểm Luật có hiệu lực 01 tháng 01 năm 2007.

Ngoài ra, để phổ biến, giáo dục Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch tổ chức tuyên truyền, phổ biến, biên soạn tài liệu, tổ chức các buổi tọa đàm trên các phương tiện thông tin đại chúng  để cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu kỹ về nội dung của Luật hàng không dân dụng Việt Nam.

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Giao thông vận tải
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết


Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Cạnh tranh    (15/2/2008)
Luật Đường sắt    (15/2/2008)
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Luật Thanh tra    (15/2/2008)
Các tin trước
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)
Luật Quản lý Thuế    (15/2/2008)
Luật Quốc phòng    (15/2/2008)
Bộ Luật Hàng hải    (15/2/2008)
Luật Công chứng    (15/2/2008)