Luật Đê điều
14:43' 15/2/2008
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng trong giai đoạn mới đòi hỏi không chỉ điều chỉnh những tồn tại của Pháp lệnh đê điều mà phải xây dựng thành Luật đê điều với những định hướng nâng cao hiệu lực pháp lý để điều chỉnh các vấn đề có liên quan phù hợp với tính chất quan trọng của hệ thống đê điều trong việc phòng, chống lụt, bão, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ dân sinh, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh, quốc phòng...

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT ĐÊ ĐIỀU

Đê điều là công trình quan trọng được xây dựng, tu bổ và bảo vệ qua nhiều thế hệ nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và của nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, gắn với quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Quá trình hình thành và phát triển, hệ thống đê điều luôn gắn liền với đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân từ đời này qua đời khác. Phần lớn các tuyến đê hiện nay đều được kết hợp làm đường giao thông trong đó nhiều tuyến đê đi qua các khu du lịch, đô thị, dân cư. Trong quá trình phát triển, yêu cầu đối với hệ thống đê điều cũng như tác động trực tiếp của con người đối với đê ngày càng tăng và có diễn biến ngày càng phức tạp.

Để có cơ sở pháp lý về tổ chức, quản lý, bảo vệ và phát triển hệ thống đê điều, năm 2000 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh đê điều (thay thế Pháp lệnh về đê điều năm 1989). Triển khai thực hiện Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 171/2003/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh đê điều, Nghị định số 78/2005/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2005 quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và sắc phục của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều.

Qua 5 năm thực hiện Pháp lệnh đê điều, từ năm 2001- 2005, Nhà nước đã đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều ở 26 tỉnh Bắc bộ, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung với tổng số vốn 1.022 tỷ đồng, trong đó vốn do ngân sách Trung ương đầu tư 872 tỷ đồng, ngân sách địa phương đầu tư 150 tỷ đồng. Các địa phương đã thực hiện đào đắp 9,5 triệu m3 đất; làm mới, tu sửa lớn 119 cống qua đê; xây dựng, tu bổ hàng trăm đoạn kè xung yếu với tổng khối lượng 826 nghìn m3 đá; khoan phụt vữa gia cố đê 535,7 nghìn mét khoan sâu; cứng hoá mặt đê bằng bê tông được hàng trăm kilômét; trồng 140 nghìn cụm tre chắn sóng…

Công tác quản lý, bảo vệ đê điều cũng đã được củng cố và tăng cường, nhất là việc kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm về đê điều. Hiện tượng vi phạm Pháp lệnh đê điều, như: xây dựng nhà kiên cố, nhà tạm trong hành lang bảo vệ đê; chứa vật tư, chất thải trên đê; đào xẻ đê không đúng quy định; xây dựng lò gạch, lò vôi ngoài bãi sông; chặt cây chắn sóng… tuy vẫn xảy ra, nhưng đã có chiều hướng giảm (năm 2001 có 3.652 vụ vi phạm, đã xử lý 1.244 vụ; năm 2002 có 2.884 vụ vi phạm, đã xử lý 1.350 vụ; năm 2003 có 2.190 vụ vi phạm, đã xử lý 658 vụ; năm 2004 có 1.681 vụ vi phạm, đã xử lý 626 vụ; năm 2005 có 1.601 vụ vi phạm, đã xử lý 862 vụ).

Nhìn chung, qua 5 năm triển khai thực hiện, Pháp lệnh đê điều năm 2000 đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong việc quản lý, xây dựng, tu bổ và bảo vệ đê điều, trong đó công tác quản lý xây dựng công trình, nhà cửa ở lòng sông, bãi sông đã có những chuyển biến tích cực; hệ thống đê điều đã được nâng cấp vững chắc hơn. Trong 05 năm chỉ xảy ra một số vụ vỡ đê nhỏ, gây thiệt hại không lớn, trên phạm vi hẹp ở một số địa phương. 

Tuy nhiên, Pháp lệnh đê điều đã bộc lộ nhiều bất cập: một số quy định trong Pháp lệnh chưa cụ thể, còn mang tính định hướng nên khó thực hiện; đã nảy sinh một số vấn đề bức xúc trong quản lý đê điều (cấp quyền sử dụng đất lâu dài trong phạm vi bảo vệ đê điều; việc sử dụng bãi sông để xây dựng công trình, nhà cửa ở những vùng đê qua khu đô thị, khu dân cư; việc xử lý nhà cửa, công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông, lòng sông…); việc phân công, phân cấp, xã hội hoá trong công tác quản lý và bảo vệ đê điều chưa được chú trọng đúng mức.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng trong giai đoạn mới đòi hỏi không chỉ điều chỉnh những tồn tại của Pháp lệnh đê điều mà phải xây dựng thành Luật đê điều với những định hướng chính như sau:

Một là, nâng cao hiệu lực pháp lý để điều chỉnh các vấn đề có liên quan phù hợp với tính chất quan trọng của hệ thống đê điều trong việc phòng, chống lụt, bão, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ dân sinh, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh, quốc phòng;

Hai là, làm rõ thêm khái niệm về đê điều; mở rộng phạm vi điều chỉnh; cụ thể hoá các quy định đối với các hoạt động liên quan đến đê điều như về quy hoạch, đầu tư, tổ chức lực lượng trực tiếp bảo vệ đê; phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong các hoạt động liên quan đến đê điều; giải quyết những tồn tại, bất cập của Pháp lệnh đê điều năm 2000 có tính tới đặc thù của đê điều ở các vùng miền khác nhau;

Ba là, hệ thống hoá và quy định trong Luật đê điều các quy định dưới luật đã được ban hành và thực hiện có hiệu quả thời gian qua để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao hơn.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT ĐÊ ĐIỀU

Luật đê điều được soạn thảo theo tinh thần quán triệt các quan điểm chỉ đạo cơ bản sau đây:

1. Thể chế hoá các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đê điều, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia; phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng địa phương trong giai đoạn hiện nay.

2. Kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh đê điều, các văn bản dưới Pháp lệnh, đồng thời bổ sung những quy định mới đáp ứng với yêu cầu thực tiễn; hạn chế đến mức thấp nhất các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; phù hợp với những quy định có liên quan trong các văn bản pháp luật khác đã được ban hành như Luật tài nguyên nước; Luật đất đai; Luật đầu tư; Luật xây dựng; Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão; Pháp lệnh Thủ đô...

3. Dựa trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn quản lý đê điều trong nhiều năm qua.

4. Thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, đẩy mạnh xã hội hoá trong việc xây dựng, tu bổ và bảo vệ đê điều.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐÊ ĐIỀU

Luật đê điều gồm 8 chương, 48 điều

1. Chương I. Những quy định chung
Chương này gồm 7 điều, từ Điều 1 đến Điều 7, quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, phân loại và phân cấp đê, nguyên tắc hoạt động trong lĩnh vực đê điều, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đê điều, các hành vi bị nghiêm cấm.

Về phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê điều, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều, quản lý, bảo vệ đê, hộ đê và sử dụng đê điều. Trong đó đê điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê và công trình phụ trợ; chỉ những tuyến đê được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. 

Về phân loại, phân cấp đê: đê được phân thành 5 loại, bao gồm đê sông, đê cửa sông, đê biển, đê bối, đê bao và đê chuyên dùng. Ngoài ra, đê cũng được chia thành 6 cấp là đê cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và cấp V.

Về nguyên tắc hoạt động trong lĩnh vực đê điều: nguyên tắc hoạt động trong lĩnh vực đê điều bao gồm bảo đảm phát triển bền vững, quốc phòng, an ninh; bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chủ quyền và lợi ích quốc gia; bảo vệ đê điều là trách nhiệm của toàn dân, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân; tuân thủ quy hoạch, bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, đồng bộ, kết hợp đồng bộ các giải pháp; phòng, chống lũ hiệu quả, kết hợp với phát triển giao thông, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của dân tộc... Những nguyên tắc này đã được thể hiện cụ thể trong Điều 5 Luật Đê điều. 

Về chính sách phát triển đê điều: các chính sách đã được chia thành các cấp độ khác nhau: nhà nước ưu tiên đầu tư; khuyến khích và tạo điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực đê điều; khuyến khích đầu tư và bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu tư vào việc xây dựng, tu bổ và bảo vệ đê điều; hỗ trợ khắc phục hậu quả.

Trong chương này cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm. Trong đó đã bỏ quy định cấm xây dựng công trình ngoài bãi sông tại Pháp lệnh Đê điều; bổ sung quy định nghiêm cấm việc chiếm dụng, sử dụng hoặc di chuyển trái phép vật tư dự trữ phòng, chống lũ, lụt, bão, sử dụng sai mục đích ngân sách đầu tư cho xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên cố hóa và bảo vệ đê điều...

2. Chương II. Quy hoạch, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều

Chương này gồm 3 mục với 15 điều:

a) Mục 1 gồm 6 điều, từ Điều 8 đến Điều 13, quy định các nội dung về quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê bao gồm:
- Nguyên tắc và căn cứ để lập quy hoạch phßng, chèng lò cña tuyÕn s«ng cã ®ª;
- Nội dung quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, trong đó có quy định về xác định lũ thiết kế, bao gồm lưu lượng lũ thiết kế và mực nước lũ thiết kế;
- Điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê;
- Trách nhiệm lập quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê:
+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê trong phạm vi cả nước.
+ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết của từng tuyến sông có đê thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
- Thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê:
+ Chính phủ phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê trong phạm vi cả nước.
+ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết từng tuyến sông có đê của địa phương.
- Công bố và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê.
Quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt sẽ được sử dụng làm một trong những căn cứ để lập quy hoạch đê điều và để quy định điều kiện xây dựng công trình ở bãi sông nơi chưa có công trình. Theo đó, công trình phải tuân theo quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở bãi sông được cấp có thẩm quyền phê duyệt phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê; việc xây dựng công trình không được làm giảm quá giới hạn cho phép của lưu lượng lũ thiết kế của sông; không làm tăng quá giới hạn cho phép của mực nước lũ thiết kế của sông; không ảnh hưởng đến dòng chảy của khu vực lân cận thượng lưu, hạ lưu.

b) Mục 2 gồm 6 điều, từ Điều 14 đến Điều 19, quy định các nội dung về quy hoạch đê điều bao gồm: nguyên tắc và căn cứ để lập quy hoạch; nội dung quy hoạch; điều chỉnh quy hoạch; trách nhiệm lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch; thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch; công bố và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch.

Về nguyên tắc và căn cứ quy hoạch: Quy hoạch đê điều phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội..., chiến lược phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê; bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống đê và tính kế thừa của quy hoạch đê điều; quy hoạch phải đảm bảo an toàn theo tiêu chuẩn thiết kế, quy hoạch đê biển phải bao gồm cả diện tích trồng cây chắn sóng, quy hoạch đê sông, đê cửa sông, đê bối, đê bao và đê chuyên dùng phải có giải pháp để bảo đảm an toàn đê khi xảy ra lũ lịch sử, phải có sự phối hợp giữa các địa phương trong cùng một lưu vực, không ảnh hưởng đến quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê và cả hệ thống sông.

Về nội dung quy hoạch: quy hoạch phải đảm bảo một số nội dung chính như xác định nhiệm vụ của mỗi tuyến đê; xác định vị trí tuyến đê, quy mô các công trình đầu mối hạ tầng trên tuyến đê; xác định diện tích đất cần sử dụng; dự kiến hạng mục công trình cần ưu tiên và nguồn lực đảm bảo thực hiện; xác định giải pháp thực hiện quy hoạch và dự báo tác động môi trường.
Về điều chỉnh quy hoạch đê điều: phải định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch 10 n¨m mét lÇn và việc này phải đảm bảo tính kế thừa.

Về trách nhiệm lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch: quy định rõ trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và các bộ, cơ quan ngang bộ có đê chuyên dùng. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo lập quy hoạch đê điều của cả nước, Uỷ ban nhân các cấp tổ chức lập quy hoạch đê điều trong phạm vi quản lý ở địa phương mình, bé, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch các loại đê chuyên dùng của ngành mình.

Về thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh và công bố quy hoạch: Chính phủ phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch đê điều của các vùng, miền và của cả nước; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch đê điều do bộ, cơ quan ngang bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình. Uỷ ban nhân dân các cấp công bố công khai quy hoạch đê điều.

c) Mục 3 gồm 3 điều, từ Điều 20 đến Điều 22, quy định về đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hoá đê điều, quy định đối với đất sử dụng cho xây dựng, tu bổ nâng cấp và kiên cố hoá đê điều.
Về hoạt động xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều được thực hiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; phải tuân theo quy trình, quy phạm kỹ thuật về đê điều và các quy định của pháp luật có liên quan;
Về đất dành cho xây dựng, tu bổ đê điều: quy định rõ đất trong phạm vi, ngoài phạm vi bảo vệ đê điều và đất bị khai thác làm vật liệu để phục vụ xây dựng, tu bổ đê điều.
Về đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều: quy định về đầu tư xây dựng các tuyến đê mới hoặc tu bổ đê điều phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch và các quy định của Nhà nước về đầu tư, xây dựng; Luật quy định rõ kinh phí đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều.

3. Chương III. Bảo vệ và sử dụng đê điều
Chương này gồm 9 điều, từ Điều 23 đến Điều 31, quy định về phạm vi bảo vệ đê điều; trách nhiệm bảo vệ đê điều; cấp phép đối với các hoạt động liên quan đến đê điều; sử dụng bãi sông nơi chưa có công trình xây dựng;  xử lý công trình, nhà ở hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông; xây dựng, cải tạo công trình giao thông liên quan đến đê điều; sử dụng hành lang bảo vệ đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê; bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều, ở bãi sông; tải trọng của phương tiện được phép đi trên đê và biển báo về đê điều.

Về phạm vi bảo vệ đê điều bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê, công trình phụ trợ và hành lang bảo vệ đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê.
Hành lang bảo vệ đê điều được quy định cụ thể đối với đê sông, đê cửa sông, đê biển từ cấp đặc biệt đến cấp III, kè bảo vệ đê, cống qua đê; đê cấp IV, cấp V do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không được nhỏ hơn 5 mét tính từ chân đê trở ra về phía sông và phía đồng.

Về trách nhiệm bảo vệ đê điều: Luật quy định mọi tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm báo cáo đến cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện thấy hư hỏng hoặc có nguy cơ đe dọa đến an toàn của đê điều; trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đê phải huy động lực lượng lao động tại địa phương, tuần tra, canh gác và thường trực trên các điếm canh đê khi có báo động lũ từ cấp I trở lên đối với tuyến sông có đê hoặc khi có báo động lũ từ cấp II trở lên đối với tuyến sông khác, đồng thời giao Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức thù lao cho lực lượng này.

Ở Chương này cũng đã quy định việc cấp phép đối với các hoạt động liên quan đến đê điều. Trong đó quy định: xây dựng công trình ngầm; khoan, đào để khai thác nước ngầm trong phạm vi 01 kilômét tính từ biên ngoài của phạm vi bảo vệ đê điều phải được cấp phép. Quy định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép cho tất cả các hoạt động trên, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan cấp giấy phép, quyền và nghĩa vụ của người được cấp giấy  phép.

Một điểm mới trong số hoạt động được phép đó là quy định điều kiện sử dụng bãi sông nơi chưa có công trình xây dựng: cho phép xây dựng các công trình theo dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhưng phải trên cơ sở quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đồng thời quy định một số tiêu chí và những nguyên tắc chung để bảo đảm việc xây dựng các công trình ở bãi sông không ảnh hưởng đến an toàn của đê và khả năng thoát lũ.

Về quy định nguyên tắc xử lý công trình, nhà ở hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều, ở bãi sông, lòng sông trước ngày Luật này có hiệu lực, theo hướng giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê để chỉ đạo xây dựng quy hoạch và phê duyệt phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng ở bãi sông; việc xử lý các công trình, nhà ở hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông đều phải tuân thủ quy hoạch đã được điều chỉnh.
Về xây dựng, cải tạo công trình giao thông liên quan đến an toàn đê phải bảo đảm an toàn đê điều; việc xây dựng cầu qua sông có đê phải làm cầu dẫn để đảm bảo thông thoáng dòng chảy.

4. Chương IV. Hộ đê
Chương IV gồm 5 điều, từ Điều 32 đến Điều 36, quy định về nội dung hộ đê; điều tiết hồ chứa nước để cắt, giảm lũ; thẩm quyền phân lũ, làm chậm lũ để hộ đê; huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để hộ đê và trách nhiệm tổ chức hộ đê.

Quy định việc hộ đê phải được tiến hành thường xuyên nhất là trong mùa lũ, bão và phải cứu hộ kịp thời khi đê điều bị sự cố hoặc có nguy cơ bị sự cố; việc cứu hộ các công trình có liên quan đến an toàn đê điều được thực hiện như đối với công tác hộ đê.

Về phân lũ, làm chậm lũ để hộ đê: đây là một trong những biện pháp quan trọng để hộ đê. Trong trường hợp khẩn cấp, khi hệ thống đê bị uy hiếp nghiêm trọng, Thủ tướng Chính phủ quyết định phân lũ, chậm lũ để bảo đảm an toàn đê có liên quan đến hai tỉnh trở lên; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phân lũ, chậm lũ có liên quan đến bảo vệ an toàn cho đê chống lũ trong phạm vi địa phương.

Về huy động lực lượng, vật tư, phương tiện: Điều 35 quy định cụ thể thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Trưởng Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão địa phương trong việc huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để bảo vệ, cứu hộ; quyết định và tổ chức việc di chuyển dân ra khỏi vùng nguy hiểm để đảm bảo an toàn.

Về trách nhiệm tổ chức hộ đê: quy định rõ trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng, các Bộ, ngành khác có liên quan, Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc hộ đê để đảm bảo an toàn đê.

5. Chương V. Lực lượng trực tiếp quản lý đê điều
Chương này gồm 5 điều, từ Điều 37 đến Điều 41, quy định lực lượng trực tiếp quản lý đê điều bao gồm lực lượng chuyên trách quản lý đê điều và lực lượng quản lý đê nhân dân; quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều; lực lượng quản lý đê nhân dân.

Nội dung của Chương này kế thừa Nghị định số 78/2005/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2005 của Chính phủ quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và sắc phục của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều, nhưng không quy định lực lượng chuyên trách quản lý đê điều chỉ cho đê từ cấp III trở lên mà mở rộng cho mọi cấp đê và quy định rõ hơn về lực lượng quản lý đê nhân dân.

Nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều: trực tiếp quản lý, bảo vệ đê điều; tham mưu, đề xuất về kỹ thuật, nghiệp vụ trong việc bảo vệ đê điều và phòng, chống lụt, bão; giám sát việc xây dựng, tu bổ các công trình đê điều; tổ chức xử lý giờ đầu các sự cố đê điều; kiểm tra và phối hợp với các tổ chức thanh tra thi hành pháp luật về đê điều.

Quyền hạn của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều: là thành viên chính thức trong Hội đồng nghiệm thu các công trình xây dựng, tu bổ đê điều; được quyền lập biên bản, quyết định tạm đình chỉ đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đê điều; trong tình huống khẩn cấp được quyền báo cáo vượt cấp.

Bên cạnh nhiệm vụ, quyền hạn, Điều 40 quy định rõ về trách nhiệm của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều như chịu trách nhiệm trước pháp luật do thiếu trách nhiệm dẫn đến vỡ đê; liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp thiếu kiểm tra, giám sát.

Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập và trực tiếp quản lý. Cơ cấu tổ chức, sắc phục, phù hiệu, cấp hiệu và chế độ chính sách đối với lực lượng chuyên trách quản lý đê điều do Chính phủ quy định.

Về lực lượng quản lý đê nhân dân do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, không thuộc biên chế nhà nước, được tổ chức theo địa bàn từng xã, phường ven đê và do Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý.

6. Chương VI. Trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều
Chương này gồm 2 điều, Điều 42 và Điều 43, quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc quản lý nhà nước về đê điều.
Chương VI đã kế thừa những quy định tại Chương V của Nghị định số 171/2003/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Đê điều, theo đó quy định rõ trách nhiệm, nội dung quản lý nhà nước về đê điều của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công nghiệp, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp.
Về quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều của Ủy ban nhân dân các cấp đã quy định cụ thể trách nhiệm chi tiết đến Ủy ban nhân dân cấp xã.
 
7. Chương VII. Thanh tra, khen thưởng và xử lý vi phạm
Chương này gồm 3 điều, từ Điều 44 đến Điều 46, quy định chung về thanh tra đê điều, những vấn đề liên quan đến khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật về đê điều.
Trong đó quy định thanh tra đê điều là thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

8. Chương VIII. Điều khoản thi hành
Chương này gồm 2 điều, Điều 47 và Điều 48, quy định hiệu lực thi hành; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Trong đó quy định rõ những điều khoản cụ thể trong Luật Chính phủ hướng dẫn thực hiện, các nội dung còn lại thực hiện theo quy định của Luật.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Luật đê điều đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua, Chủ tịch nước ký lệnh công bố số 24/2006/L-CTN ngày 12 tháng 12 năm 2006, Luật đê điều có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang khẩn trương xây dựng và hoàn thiện Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật đê điều; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đê điều; Quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình trình Chính phủ ban hành trước khi Luật có hiệu lực.
Các địa phương chủ động rà soát các hoạt động trong lĩnh vực đê điều của địa phương mình, đối chiếu với quy định của Luật; kiện toàn bộ máy tổ chức đối với đê điều nhất là lực lượng chuyên trách quản lý đê điều, xây dựng lực lượng quản lý đê nhân dân; lập quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê chi tiết trên địa phương mình, rà soát quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và hiện trạng công trình, nhà ở ngoài bãi sông; tổ chức tuyên truyền phổ biến Luật đê điều đến cán bộ, nhân dân nhất là các tổ chức, người dân có hoạt động liên quan đến đê điều và ở bãi sông. 

ại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Nông nghiệp - Phát triển nông thôn
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Cạnh tranh    (15/2/2008)
Luật Đường sắt    (15/2/2008)
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Luật Thanh tra    (15/2/2008)
Các tin trước
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)
Luật Quản lý Thuế    (15/2/2008)
Luật Quốc phòng    (15/2/2008)