Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
14:53' 15/2/2008
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 là hình thức văn bản có hiệu lực cao lần đầu tiên được ban hành tạo cơ sở xây dựng khuôn khổ, hành lang pháp lý nhằm "đổi mới quy trình lập pháp, lập quy", đáp ứng yêu cầu bức xúc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cho đất nước ta trong thời kỳ đổi mới có đủ pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, các quy định của Luật đã bộc lộ những mặt hạn chế cần được khắc phục kịp thời, đặc biệt là các quy định liên quan đến quy trình xây dựng, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Để nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tiến độ và chất lượng của các dự án, dự thảo, kịp thời đáp ứng yêu cầu bảo đảm cho đất nước có đủ luật trong điều kiện phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm này là cần thiết. ..

I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT:

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 là hình thức văn bản có hiệu lực cao lần đầu tiên được ban hành tạo cơ sở xây dựng khuôn khổ, hành lang pháp lý nhằm "đổi mới quy trình lập pháp, lập quy", đáp ứng yêu cầu bức xúc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cho đất nước ta trong thời kỳ đổi mới có đủ pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng. Luật được ban hành đã trực tiếp góp phần xác lập trật tự, kỷ cương trong chính hoạt động lập pháp, lập quy, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung và công tác lập pháp nói riêng vào nề nếp. Sau gần sáu năm thực hiện Luật, công tác xây dựng pháp luật đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Việc triển khai thực hiện Luật đã tạo sự chuyển biến về chất trong hệ thống pháp luật nói chung và trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói riêng. Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước đã ban hành được một số lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật. Chất lượng văn bản ngày càng được nâng cao. Nội dung các văn bản ngày càng phong phú, đa dạng, bao quát được hầu hết các lĩnh vực cơ bản, quan trọng cần điều chỉnh của đời sống xã hội.

Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, các quy định của Luật đã bộc lộ những mặt hạn chế cần được khắc phục kịp thời, đặc biệt là các quy định liên quan đến quy trình xây dựng, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tiến độ và chất lượng của các dự án, dự thảo, kịp thời đáp ứng yêu cầu bảo đảm cho đất nước có đủ luật trong điều kiện phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm này là cần thiết. Việc sửa đổi tập trung đặc biệt vào việc đổi mới quy trình lập pháp để nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật trước hết là luật, pháp lệnh.

Việc sửa đổi, bổ sung Luật lần này cũng là để kịp thời thể chế hoá tư tưởng chỉ đạo của Đại hội IX của Đảng về đổi mới quy trình lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật; bảo đảm sự phù hợp của Luật với các quy định của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi và Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Toà án nhân dân vừa được Quốc hội thông qua. Việc đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật chắc chắn cũng sẽ góp phần vào việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

II. NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO, QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO, THẢO LUẬN VÀ THÔNG QUA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT:

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành theo các nguyên tắc chỉ đạo sau đây:

          1) Thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, lập quy, về hội nhập, bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân;
          2) Bảo đảm sự phù hợp của Luật với các quy định được sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp và các luật về tổ chức và tính thống nhất của Luật này trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật;
          3) Việc sửa đổi, bổ sung Luật phải bảo đảm tính kế thừa, tổng kết kinh nghiệm lập pháp của các khoá Quốc hội, đặc biệt là Quốc hội Khoá X, đồng thời giải toả một bước các vướng mắc trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành;
          4) Thể hiện tinh thần cải cách hành chính, đổi mới quy trình lập pháp và quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác lập pháp của Quốc hội, công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ trong quá trình xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Trong quá trình xây dựng Dự án Luật, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ,  Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức hữu quan tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996.

Ngày 14 tháng 3 năm 2002 Chính phủ đã có Tờ trình Quốc hội số 258/PC-CP về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự án Luật đã được Quốc hội Khoá X  cho ý kiến tại kỳ họp thứ 11 (tháng 3 năm 2002). Ngày 31 tháng 10 năm 2002, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến về Dự án Luật. Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Dự án Luật đã tiếp tục được chỉnh lý và hoàn thiện thêm.

Ngày 12 tháng 11 năm 2002, Chính phủ có Tờ trình Quốc hội số 1438/ - CP - PC về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngày 22 tháng 11 năm 2002, Quốc hội đã thảo luận ở Tổ về dự án Luật này. Nhìn chung, các ý kiến rất phong phú, cụ thể, thể hiện sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm cao của các vị đại biểu Quốc hội đối với việc đổi mới quy trình lập pháp, lập quy, nâng cao chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường hiệu quả quản lý đất nước bằng pháp luật.

Đại đa số ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội biểu thị sự đồng tình đối với phạm vi sửa đổi, bổ sung của Luật nhằm dân chủ hoá quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan để nâng cao chất lượng dự án, dự thảo văn bản, tạo cơ chế để Quốc hội xem xét, thông qua được nhiều luật trong một kỳ họp, đáp ứng yêu cầu từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Thường trực Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Đoàn thư ký kỳ họp và các cơ quan, tổ chức có liên quan nghiêm túc tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện Dự án Luật. Ngày 16 tháng 12 năm 2002, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1. Khái quát chung
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội Khoá IX kỳ họp thứ 10 thông qua vào ngày 12 tháng 11 năm 1996 và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Luật gồm 10 chương, 87 điều, quy định khá cụ thể các vấn đề liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã sửa đổi, bổ sung 27 điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, trong đó có 8 điều mới, 19 điều được sửa đổi, bổ sung về nội dung và có một số sửa đổi, bổ sung về từ ngữ cho phù hợp với nội dung của Hiến pháp và các luật về tổ chức mới được sửa đổi. Việc sửa đổi Luật lần này tập trung vào một số điều liên quan trực tiếp đến quy trình xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh; dân chủ hoá hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành văn bản; tăng cường trách nhiệm giám sát, kiểm tra văn bản sau khi ban hành.

Tại Chương I . (Những quy định chung)  có 4 điều được sửa đổi, bổ sung, đó là: 
- Điều 1 về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, quy định thêm hình thức quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và bỏ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.
- Điều 3 về vấn tham gia góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Điều 9 về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
-  Bổ sung Điều 12a về giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Tại Chương II. (Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật)  có 1 điều được sửa đổi, bổ sung là Điều 17  bổ sung quy định về thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.

Tại Chương III . (Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội)  có 8 điều được sửa đổi, bổ sung, đó là:
- Điều 22 về lập chương trình, thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
- Điều 25 về thành lập ban soạn thảo.
- Điều 26 về nhiệm vụ của ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.
- Điều 28 về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.
- Điều 29a về thẩm định dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.
- Điều 34a về trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật Quốc hội bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh.
- Điều 45 về trình tự xem xét, thông qua dự án luật.
- 45a về trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại một kỳ họp của Quốc hội.
- 45b về trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại hai kỳ họp của Quốc hội.
-  Điều 47 về trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh.

Tại Chương V. ( Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ)  có 6 điều được sửa đổi bổ sung, đó là:
-  Điều 60 về thành lập ban soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định.
- Điều 61 về nhiệm vụ của Ban soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định.
- Điều 62 về việc tham gia ý kiến xây dựng dự thảo nghị quyết, nghị định.
-  Điều 63 về thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định.
-  Điều 64 về trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định.
-  Điều 65 về soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

Tại Chương VI . (Văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao)  có 2 điều được sủa đổi, bổ sung, đó là:
 Điều 69 và Điều 70 về nội dung và trình tự soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Tại Chương VIII . ( Về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật)  có sửa đổi 1 điều là Điều 75 về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

Tại Chương IX .  (Giám sát, kiểm tra, kiểm sát và xử lý văn bản trái pháp luật)  có 5 điều được sửa đổi, bổ sung, đó là:
-  Điều 80a về mục đích giám sát, kiểm tra.
-  Điều 80b về nội dung giám sát, kiểm tra.
-  Điều 82 về thẩm quyền giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Điều 82a về thẩm quyền của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
-  Điều 83 về thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật của Chính phủ.

Ngoài việc sửa đổi về mặt nội dung như trên, Luật còn có một số sửa đổi, bổ sung về mặt từ ngữ, kỹ thuật như: bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và Khoản 2 Điều 84; bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84; thay cụm từ "phân bổ ngân sách nhà nước" bằng cụm từ "phân bổ ngân sách trung ương" tại Khoản 2 Điều 20... và bãi bỏ khoản 2 Điều 27, khoản 3 Điều 29, Điều 31, khoản 3 Điều 32 và Điều 85; bổ sung cụm từ “ dự thảo nghị quyết” vào sau các cụm từ “ dự án luật, dự án pháp lệnh” tại Điều 29; bỏ từ “ khảo sát” tại tên của Chương IX.

2. Một số nội dung trọng tâm của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật  ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

a. Đổi mới quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm dân chủ hoá hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật:

- Nhằm dân chủ hoá hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,Luật quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là việc lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản (Điều 3, Khoản 4 Điều 26, Khoản 4 Điều 61). Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 chưa quy định rõ phải lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp mà chỉ quy định một cách chung chung là tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan bằng  các hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất của từng dự án..
Để việc lấy ý kiến công chúng được rộng rãi, Khoản 4 Điều 62, Khoản 4 Điều 65 quy định về việc giao Văn phòng Chính phủ đăng tải dự thảo nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến, tuỳ theo tính chất và nội dung dự thảo nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị.

- Để bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật,Luật sửa đổi, bổ sung Điều 9 theo hướng yêu cầu các cơ quan khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải xác định rõ trong văn bản đó danh mục các điều, khoản, các văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành mà nay trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới; có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật  điều, khoản, điểm đó. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 chưa quy địnhvề vấn đề này.
Luật cũng sửa đổi, bổ sung Điều 75 quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản để bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền. Cụ thể là, Luật quy định về nguyên tắc, các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có hiệu lực sau 15 ngàykể từ ngày đăng Công báo. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 trước đây quy định các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan này ban hành có hiệu lực sau 15 ngàykể từ ngày ký văn bản mà không gắn với đăng Công báo tức là công bố công khai bằng văn bản để người thực hiện có điều kiện tìm hiểu, nắm bắt quy định của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

b.  Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm nâng cao trách nhiệm cũng như tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

- Để bảo đảm tính khả thi của chương trình, xây dựng Luật, pháp lệnh từ giai đoạn lập chương trình, thông qua chương trình Luật quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh,  ngoài việc phải nêu sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản còn phải nêu rõ những quan điểm, nội dung chính của văn bản, dự báo tác động kinh tế - xã hội và dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành (Điều 22). Luật năm 1996 chưa quy định:  trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ phải dự báo được tác động kinh tế - xã hội, dự kiến nguồn lực đảm bảo thi hành và điều kiện cho việc soạn thảo văn bản. Đây là vấn đề hết sức quan trọng,  rất có ý nghĩa trong việc bảo đảm tính khả thi thực tế của Chương trình, tạo điều kiện để Quốc hội xem xét quyết định về nội dung, thời điểm ban hành luật, từ đó nâng cao vai trò điều chỉnh của luật, phát huy tác dụng tích cực của nó trong việc phát triển kinh tế, xã hội.

- Các quy định của Luật được sửa đổi theo hướng phân công rõ quyền hạn, trách nhiệm, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Luật xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật với các cơ quan hữu quan, nhằm nâng cao chất lượng dự án luật trước khi trình Quốc hội.

  - Tăng cường khâu chuẩn bị để nâng cao chất lượng dự án, dự thảo đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của Ban soạn thảo trong quá trình soạn thảo dự án, dự thảo. Luật sửa đổi theo hướng làm rõ thẩm quyền thành lập Ban soạn thảo, thành phần, trách nhiệm của Ban soạn thảo, nhấn mạnh tính liên ngành của Ban soạn thảo; thu hút sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học vào quá trình soạn thảo; quy định mối quan hệ chặt chẽ giữa Ban soạn thảo và cơ quan chủ trì soạn thảo (Điều 25, Điều 60, Khoản 4 và Khoản 6 Điều 26; Khoản 4 và Khoản 6 Điều 61).

c. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đổi mới quy trình thảo luận, thông qua luật, pháp lệnh

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996  quy định  Quốc hội thông qua dự án luật bằng cách biểu quyết từng điều, từng chương, nghe đọc toàn văn, sau đó biểu quyết toàn bộ hoặc nghe đọc toàn văn rồi biểu quyết  toàn bộ dự án một lần. Do đó, việc thông qua một dự án luật mất rất nhiều thời gian. Để rút ngắn thời gian thông qua luật, khắc phục tình trạng các đại biểu Quốc hội phải mất quá nhiều thời gian để thảo luận về câu chữ, kỹ thuật của dự thảo mà chưa dành thời gian thích đáng cho việc thảo luận, quyết định các chính sách và nội dung cơ bản của dự thảo luật, các điều 45, 45 a và 45 b của Luật đã quy định theo hướng:

- Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án luật; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội biểu quyết một số nội dung của dự án luật để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

- Tăng cường vai trò của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc chỉ đạo tổng hợp ý kiến, chỉnh lý dự thảo luật và báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;

- Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo luật.

Cụ  thể các Điều 45, 45 a và 45b quy định như sau:
Điều 45. Xem xét, thông qua dự án luật
Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, Quốc hội có thể xem xét, thông qua dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp của Quốc hội.

Điều 45a. Trình tự xem xét, thông qua dự  án luật tại một kỳ họp của Quốc hội
Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại một kỳ họp theo trình tự sau đây:
1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án;
2. Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án luật. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận ở Tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội.
Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật được trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan đến dự án.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội.
Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội biểu quyết một số nội dung của dự án để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;
4. Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo luật.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;
5. Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo luật;
6. Dự thảo luật được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.
Trong trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc chỉnh lý và thông qua dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và Khoản 3 Điều 45b của Luật này.

Điều 45b. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại hai kỳ họp của Quốc hội
Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:
1. Tại kỳ họp thứ nhất:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án;
b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
c) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án luật. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận ở Tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội.
Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật được trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan đến dự án;
d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và chuẩn bị những nội dung cơ bản của dự án luật để trình Quốc hội biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý;
2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo luật;
3. Tại kỳ họp thứ hai:
a) Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;
b) Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo luật;
c) Dự thảo luật được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.
Trong trường hợp dự án luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội."

Như vậy, theo tinh thần của Luật sửa đổi, các dự án luật sẽ được Quốc hội thảo luận, thông qua nhiều nhất là tại hai kỳ họp. Với tinh thần đổi mới quy trình thảo luận, thông qua luật như trên, cùng với sự nỗ lực phối hợp của các cơ quan trình dự án luật, ngay trong một kỳ họp, Quốc hội có thể thảo luận, thông qua được khá nhiều dự án luật. Theo dự kiến, trong năm 2003, các cơ quan, tổ chức sẽ trình Quốc hội thảo luận, thông qua 16 dự án luật và cho ý kiến đối với nhiều dự án luật khác.

Cùng với các quy định nhằm đổi mới quy trình thông qua luật của Quốc hội, Luật cũng sửa đổi, bổ sung Điều 47 về trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh  nhằm rút ngắn thời gian thảo luận, thông qua dự án pháp lệnh.

d. Tăng cường và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan thẩm định, thẩm tra, kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng dự thảo, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trước và sau khi ban hành:

- Luật bổ sung Điều 29a để quy định rõ phạm vi thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; sửa đổi, bổ sung Điều 63 quy định về việc thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ và bổ sung Khoản 5 Điều 65 về việc thẩm định dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

- Phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Quốc hội về trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Luật bổ sung Điều 34a nhằm xác định rõ trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội. Bên cạnh trách nhiệm như các Uỷ ban khác của Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh nói chung, kể cả các dự án do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra.

-  Về cơ chế kiểm tra sau văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 mới chỉ xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật mà chưa quy định rõ cơ chế thực hiện các thẩm quyền đó. Với tinh thần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, Luật bổ sung các quy định nhằm quy định rõ nội dung, cơ chế, phương thức giám sát, kiểm tra văn bản (Điều 80b, 82b) nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật sau khi được ban hành.

- Đề cao trách nhiệm của các cơ quan ban hành văn bản, cơ quan kiểm tra, giám sát văn bản, Luật bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan này trong việc kịp thời phát hiện và xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai trái (Điều 12a). Ngoài ra, Điều 80a còn quy định cơ quan giám sát, kiểm tra văn bản có trách nhiệm kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái. 

- Bên cạnh việc bổ sung quy định nhằm xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan của Quốc hội trong việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật (Điều 82a), Luật cũng xác định rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 83).

IV.MỘT SỐ CÔNG TÁC CẦN TRIỂN KHAI ĐỂ THỰC HIỆN TỐT LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Để đưa Luật này vào cuộc sống, trước mắt cần làm tốt những công việc sau đây:

-Khẩn trương ban hành hệ thống văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành: sửa đổi, bổ sung Nghị định 101/CP ngày 23 tháng 9 năm 1997 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi, bổ sung Quyết định 280/1999/QĐ-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để phù hợp với các quy định của Luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các quy định của Luật. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành căn cứ vào những nguyên tắc đã được Luật quy định để ban hành cơ chế xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền (quyết định, chỉ thị, thông tư) cũng như xây dựng các văn bản  pháp luật được Chính phủ và Quốc hội giao chuẩn bị.

- Tổ chức tập huấn, giới thiệu các quy định của Luật đến các cơ quan, tổ chức và nhân dân: Đây là công việc quan trọng, thiết thực nhằm đưa các quy định của Luật đi vào cuộc sống, nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng người dân cũng như các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy định của Luật, tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Củng cố tổ chức, lực lượng cán bộ, công chức tham gia xây dựng văn bản:
Trước mắt cũng như lâu dài, song song với việc kiện toàn về mặt tổ chức, tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cần bảo đảm các yêu cầu về nhân lực cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Cùng với việc bảo đảm đủ về số lượng, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chuyên viên làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần mở các lớp tập huấn, đào tạo chuyên sâu về công tác xây dựng văn bản; tổ chức các hội nghị, tọa đàm, hội thảo khoa học cho các cán bộ làm công tác này để họ có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm.
Một trong những công việc quan trọng hiện nay là tập trung tích cực chuẩn bị về tổ chức, nhân sự để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ, ngành và địa phương.

- Cần bảo đảm tốt hơn các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động về mặt kinh phí và được trang bị đầy đủ các phương tiện phục vụ cho việc hiện đại hoá công tác soạn thảo văn bản nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng pháp luật, góp phần đưa ra được những văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật./. 

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Hành chính
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Luật Thanh tra    (15/2/2008)
Luật An ninh quốc gia    (16/2/2008)
Luật Chứng khoán    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Đường sắt    (15/2/2008)
Luật Cạnh tranh    (15/2/2008)
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Luật Hiến mô    (15/2/2008)