Chính phủ đã ban hành Nghị định 133 ngày 8-8 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động. Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở thành lập Hội đồng hòa giải lao động cơ sở.
Trong thời hạn ba ngày, phải họp các bên tranh chấp để hòa giải
Theo Nghị định 133/2007/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở thành lập Hội đồng hòa giải lao động cơ sở. Hội đồng hòa giải có nhiệm vụ hòa giải các vụ tranh chấp lao động cá nhân xảy ra tại doanh nghiệp và các vụ tranh chấp lao động tập thể khi có đơn yêu cầu.
Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải, Hội đồng hòa giải phải họp với các bên tranh chấp lao động để hòa giải. Phiên họp hòa giải vụ tranh chấp lao động được tiến hành khi có mặt ít nhất 2/3 số thành viên của Hội đồng.
Theo Điều 6, 7 của Nghị định, hòa giải viên lao động do cơ quan lao động cấp huyện cử để tiến hành hoà giải các vụ tranh chấp lao động cá nhân tại các doanh nghiệp chưa có Hội đồng hòa giải, hòa giải tranh chấp việc thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề, các tranh chấp quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ Luật Lao động khi các đương sự có yêu cầu và các vụ tranh chấp lao động tập thể khi có yêu cầu.
Việc lựa chọn Hội đồng hoà giải hoặc hoà giải viên lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể do tập thể lao động và người sử dụng lao động quyết định (Điều 8 Nghị định 133/2007/NĐ-CP).
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Chủ tịch UBND cấp huyện
Theo Điều 9 Nghị định 133/2007/NĐ-CP, đối với các vụ tranh chấp lao động về quyền, trong trường hợp đã được Hội đồng hòa giải hoặc hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải nhưng không thành; hoặc đã hết thời hạn ba ngày mà Hội đồng hòa giải hoặc hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc không tổ chức được phiên họp hòa giải thì Chủ tịch UBND cấp huyện có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch UBND cấp huyện phải họp với các bên tranh chấp để giải quyết vụ tranh chấp.
Thành lập Hội đồng trọng tài lao động để hòa giải các vụ tranh chấp lao động tập thể tại các doanh nghiệp không được đình công
Hội đồng trọng tài lao động do UBND cấp tỉnh thành lập, gồm các thành viên chuyên trách và kiêm nhiệm là đại diện của cơ quan lao động, công đoàn, người sử dụng lao động và đại diện của Hội luật gia hoặc là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động ở địa phương. Hội đồng trọng tài lao động gồm 5 hoặc 7 thành viên hòa giải các vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và các vụ tranh chấp lao động tập thể tại các doanh nghiệp không được đình công.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải, Hội đồng trọng tài lao động họp với các bên tranh chấp để giải quyết. Khi tiến hành giải quyết các vụ tranh chấp lao động tập thể tại các doanh nghiệp thuộc danh mục không được đình công, Hội đồng trọng tài lao động phải ra quyết định giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Nếu một trong hai bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết.
Điều 13 quy định về việc cử đại diện tập thể lao động để tổ chức và lãnh đạo đình công. Theo đó, khi xảy ra tranh chấp lao động tập thể tại các doanh nghiệp chưa có Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, tập thể lao động được cử đại diện để tổ chức và lãnh đạo đình công với số người đại diện là số lẻ, tối đa không quá 9 người và tối thiểu không dưới 3 người.