Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đánh dấu mốc mới trong tiến trình nước ta chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Mốc mới này, trên thực tế, đã được khởi nguồn cách đây 100 năm với tầm nhìn hướng ra thế giới của vị lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh khi còn là Nguyễn Tất Thành và cách đây 60 năm khi Người nêu nguyện vọng của dân tộc Việt Nam vào Liên hợp quốc và muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ.
Một trăm năm trước, với khát vọng dân tộc độc lập, các phong trào yêu nước như Đông kinh nghĩa thục (1907), phong trào chống thuế ở Trung kỳ (1908), cuộc vận động duy tân ở miền Trung, Duy tân hội, phong trào Đông Du... hoạt động rầm rộ mong tìm con đường canh tân đất nước. Song, các phong trào này cuối cùng đều thất bại. Trong thời gian đó, khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất Thành theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh. Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với các từ TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI. Từ đó, Người rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Điều này được nhà báo Nga Ô-xíp Man-đen-xtam khẳng định và sau này là nhà văn Mỹ An-na Xtơ-rông kể lại. Khi trò chuyện với nhà văn, Người nói: "Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi"(1).
Ba mươi năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Người đã đặt cơ sở cho việc thiết lập mối quan hệ quốc tế. Người coi chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là kẻ thù chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới, còn nhân dân các dân tộc thuộc địa và giai cấp vô sản ở mọi nơi đều là bạn và phải đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Từ năm 1941 đến 1945, Người khẳng định cách mạng Việt Nam luôn đứng về phe Đồng Minh chống phát-xít và Việt Nam "sẵn sàng hợp tác với người Mỹ khi nào người Mỹ thấy thích hợp". Trong bức thư đầu tiên gửi cho Sác-lơ Phen, trung úy Mỹ trong OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược của Mỹ) cuối tháng 4-1945, Người đã đề nghị gửi một số thanh niên sang Mỹ để được huấn luyện sử dụng điện đài.
Ngay sau Đại hội quốc dân Tân Trào, ngày 18-8-1945, Người đã gửi thông điệp cho Chính phủ Pháp nêu ra đề nghị 5 điểm, trong đó điểm 4 là: "Chính phủ Pháp hưởng quyền ưu đãi trong kỹ nghệ và thương mại ở Việt Nam. Điểm 5 - Người Pháp có thể làm cố vấn về ngoại giao"(2). Cũng trong ngày đó, lần đầu tiên Người đã gửi Thông điệp cho Liên hợp quốc (được viết bằng tiếng Anh) yêu cầu Liên hợp quốc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc nhỏ, lệ thuộc như đã được ghi nhận tại các Hiến chương Đại Tây Dương và Xan Phran-xi-xcô. Người còn gửi bức thư thứ tư cho Sác-lơ Phen trong đó có đoạn: "Chiến tranh đã kết thúc. Đấy là điều tốt cho mọi người. Tôi chỉ cảm thấy tiếc khi những người bạn Mỹ phải rời chúng tôi quá nhanh... Tôi mong có ngày hạnh phúc sẽ được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ"(3). Trong bức thư (viết vào khoảng ngày 18-8) gửi cho Ph.Tan (phụ trách điện đài, người của Đồng minh), Người viết: "Chiến tranh đã kết thúc. Mọi thứ đều thay đổi. Nhưng tình bạn của chúng ta vẫn như thế, không bao giờ thay đổi... Tôi lấy làm tiếc vì những người bạn Mỹ đã rời chúng tôi quá nhanh và do đó mối quan hệ giữa chúng ta sẽ trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ông. Ông cũng đừng quên chúng tôi nhé! Ngày mai tươi sáng, chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta sẽ trông chờ ngày đó"(4).
Hai mươi sáu ngày sau buổi lễ Độc lập, ngày 28-9-1945, Chính phủ lâm thời công bố chính sách ngoại giao 4 điểm (do Chủ tịch Hồ Chí Minh dự thảo và được Hội đồng Chính phủ thông qua) trong đó điểm 1 và điểm 2 nói tới quan hệ của Việt Nam với các nước Đồng minh và với nước Pháp: "1. Đối với các nước Đồng minh, Việt Nam chủ trương "hết sức thân thiện và thành thực công tác trên lập trường bình đẳng tương ái để xây đắp lại nền hòa bình của thế giới. 2. Đối với nước Pháp, Chính phủ Việt Nam sẽ bảo vệ theo luật quốc tế tính mệnh và tài sản của kiều dân Pháp yên tĩnh làm ăn và tôn trọng sự độc lập của Việt Nam, nhưng đối với Chính phủ Pháp, Đờ Gôn chủ trương thống trị Việt Nam, không chịu thừa nhận nền độc lập hoàn toàn, thì kiên quyết chống lại"(5).
Ngày 17-10-1945, Hồ Chí Minh đã gửi điện văn tới Tổng thống Mỹ H. Tru-man (đồng thời muốn truyền đạt tới Liên hợp quốc cùng các vị đứng đầu các cường quốc) xung quanh sự kiện thành lập Ủy ban tư vấn đối với khu vực Viễn Đông. Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam hoàn toàn ủng hộ việc thành lập Ủy ban tư vấn này và Người khẳng định đại diện có đủ điều kiện vào Ủy ban tư vấn chính là Việt Nam chứ không phải Pháp. Người nhấn mạnh rằng, tại ủy ban này, Việt Nam có thể mang lại sự đóng góp có hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại ở Viễn Đông. Đúng 5 ngày sau, ngày 22-10-1945, Hồ Chí Minh lại có Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ G. Biếc-nơ để khẳng định lại việc thành lập ủy ban tư vấn Viễn Đông và vấn đề liên quan tới Việt Nam được thảo luận tại cuộc họp đầu tiên của ủy ban này.
Một ngày sau đó, ngày 23-10-1945, trả lời các nhà báo về thái độ hiện thời của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Hoa và Pháp, Hồ Chí Minh nêu rõ lập trường: "chúng ta không chống tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hòa bình..., lẽ tất nhiên chúng ta sẽ hoan nghênh... Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia"(6).
Trong Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ G. Biếc-nơ ngày 1-11-1946, nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nhân danh Hội văn hóa Việt Nam, Hồ Chí Minh bày tỏ nguyện vọng của Hội là "được gửi một phái đoàn khoảng năm mươi thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác... tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những lý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam"(7).
Trong khi kết tội bọn xâm lược, hiếu chiến nhiều nước vi phạm Hiến chương Đại Tây Dương và Xan Phran-xi-xcô, Hồ Chí Minh vẫn tuyên bố với thế giới về quan điểm thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì hòa bình, thịnh vượng chung. Ngày 14-1-1946, Hồ Chí Minh đã có điện văn gửi các ông A. Grô-mư-cô - đại diện Liên Xô, G. Biếc-nơ - Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, bác sĩ Cố Duy Quân - đại diện Trung Quốc. Cùng ngày, Người có điện gửi cho ông Hăng-ri Xpát, Chủ tịch Hội đồng Liên hợp quốc. Những bức điện đều toát lên ý chí, nguyện vọng và trách nhiệm của nhân dân Việt Nam: "Quốc dân chúng tôi đã giành được độc lập và giữ vững nền độc lập, thiết tha yêu cầu các ngài công nhận nền độc lập ấy và nhận chúng tôi vào Hội đồng Liên hợp quốc... Chúng tôi tin rằng sự có mặt của chúng tôi trong Hội nghị sẽ có ích nhiều cho việc giải quyết một cách nhanh chóng và hòa bình cho các vấn đề ở Đông - Nam châu Á hiện nay"(8).
Với tinh thần xuyên suốt đó, hơn một tháng sau, ngày 18-2-1946, trong Công hàm gửi chính phủ các nước: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và Anh, Người khẳng định lại bổn phận của chúng ta cùng các nước lớn bắt tay vào xây dựng lại thế giới nhằm đặt ra ngoài vòng pháp luật vô thời hạn, một mặt là chiến tranh, áp bức, bóc lột và mặt khác là bần cùng, khiếp sợ và bất công. Người khẳng định việc đưa vấn đề Đông Dương ra bàn bạc tại Liên hợp quốc sẽ cho phép chúng ta hợp tác với các quốc gia khác trong việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hòa bình bền vững. Người nhấn mạnh những nguyện vọng đó là chính đáng và sự nghiệp hòa bình trên thế giới phải được bảo vệ.
Vào tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc (Kính gửi Đại Anh Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc), một lần nữa, Hồ Chí Minh đã đề xuất những định hướng rõ ràng cho đất nước về mở cửa và hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế quốc tế. Trong chính sách đối ngoại, Người nêu 2 nguyên tắc, trong đó điểm 2 là: "Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc"(9).
Ngày 22-6-1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Người tuyên bố: "Việt Nam có nhiều phụ nguyên, chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi". Ngày 16-7-1947, cũng trong trả lời nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh khẳng định lại: "chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa kinh tế thế giới và giữ gìn hòa bình"(10). Tháng 3-1949, trước các nhà báo, Người nói rõ chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế sau khi hòa bình lập lại: "Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn"(11); về ngoại thương, "Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà"(12)...
Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chủ trương "Chúng ta đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn. Chúng ta sẽ dựa theo 5 nguyên tắc lớn của bản tuyên bố Trung - Ấn và Trung - Diến để gây quan hệ hữu hảo với hai chính phủ nhà vua Miên và Lào. Chúng ta phát triển quan hệ hữu hảo với các nước Đông - Nam Á. Đối với nước Pháp, chúng ta sẽ cố gắng lập lại mối quan hệ kinh tế và văn hóa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên đều có lợi. Chúng ta đoàn kết với nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới"(13).
Khi đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, trong cuộc tiếp và nói chuyện thân mật với phái viên của Bộ trưởng Ngoại giao I-ta-li-a, giáo sư luật học La Pa-ra, Hồ Chí Minh nói: Việt Nam sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Tinh thần này được nhắc lại một lần nữa khi Người tiếp phái viên của Tổng thống Pháp Gi. Xanh-tơ-ny ngày 5-7-1966. Trung tuần tháng 1-1967, khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ đang ở đỉnh cao, trong buổi tiếp đoàn đại biểu của Tòa án quốc tế sang Việt Nam điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Chúng tôi nói với nhân dân chúng tôi rằng họ phải sẵn sàng hoan nghênh nhân dân Mỹ không phải khi họ đến như hiện nay với những người lính mang vũ khí - nhưng khi họ đến một lần nữa trong tương lai để giúp đỡ xây dựng đất nước chúng tôi... Các ông hãy tin tôi khi nói rằng tôi sẽ rất sung sướng khi đón tiếp Tổng thống Mỹ đến đây một cách hòa bình. Chúng tôi chìa bàn tay hữu nghị ra với bất kỳ quốc gia nào thừa nhận Việt Nam là một nước tự do và độc lập"(14).
Như vậy, thành quả sau lộ trình 11 năm đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam đã được khởi nguồn cách đây 100 năm, khi Hồ Chí Minh quyết đi ra thế giới để tìm đường cứu nước, đưa đất nước hòa nhập vào thời đại với tinh thần chủ động, độc lập, tự chủ. Trên nền tảng vững chắc đó, cách đây đúng 60 năm, ngay sau khi nước ta vừa giành được độc lập, Người đã đề nghị các nước chấp nhận yêu cầu của Việt Nam vào Hội đồng Liên hợp quốc. Sau đó, Người vạch ra cả một lộ trình để chúng ta bước vào sân chơi lớn của thị trường thương mại toàn cầu với khát vọng hợp tác vì hòa bình và phát triển. Tầm nhìn và bản lĩnh Hồ Chí Minh chính là nền tảng cho đường lối và chính sách của Đảng về mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Nền tảng đó có thể được nhìn nhận trên một số phương diện sau:
Một là, trên cơ sở phép biện chứng duy vật và tổng kết lịch sử, phải có tầm nhìn về những vấn đề có tính quy luật, xu thế khách quan của lịch sử nhân loại, mà vấn đề đang bàn ở đây là toàn cầu hóa.
Hai là, phải có trí tuệ và bản lĩnh ra biển lớn, hòa nhập vào đại dương, thâm nhập và khám phá thế giới. Trí tuệ và bản lĩnh đó trước hết phải dựa trên nguyên tắc "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Làm cách mạng, theo Hồ Chí Minh, là phải nắm được cái "bất biến" nhưng phải luôn biết "vạn biến". "Vạn biến", nhưng không nguy hại tới "bất biến"; "vạn biến" đến đâu và như thế nào phải tùy thuộc và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Ba là, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng đúng đắn của sự phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ với các nước. Thống nhất được mục tiêu của dân tộc là "hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" như ý nguyện của Bác trong Di chúc với mục tiêu của thời đại là "hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
Bốn là, phải có tinh thần độc lập, tự cường, tự chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do". Một trong những vấn đề ngoại giao quan trọng nhất theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn. Đồng thời phải có tư duy chính trị nhạy bén, "làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời nhà báo Mỹ S. Ê-li Mây-si (9-1947).
* PGS, TS Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1992, t 1, tr 47, 48
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Sđd, t 2, tr 264, 265, 266
(5) Phạm Xanh: Góp phần tìm hiểu quan hệ Việt Nam -Hoa Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 73, 74
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 73, 74
(7), (8), (9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 80, 81, 157, 470
(10), (11), (12) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 170, 576, 578
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 430
(14) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Sđd, t 10, tr 21
Theo Tạp chí Cộng sản