"Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc".
(Trích thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Với việc Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 07/11, những mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau 60 năm đã trở thành hiện thực, Việt Nam đã tiến một bước dài và rất quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vào WTO Việt Nam chính thức bắt đầu một "cuộc chơi" lớn đầy thách thức về kinh tế mà theo đánh giá của Tiến sĩ Carl Thayer đó là: trình độ kỹ thuật thấp cùng kỹ thuật lạc hậu; không am tường luật lệ và thủ tục của WTO; có sự cạnh tranh khốc liệt của những công ty nước ngoài về phân phối hàng hóa nội địa; tính cạnh tranh cao sẽ dẫn đến sự phá sản của công ty trong nước trong các lĩnh vực như dịch vụ; sản xuất sắt thép, lắp ráp xe hơi và nông nghiệp sẽ bị đe dọa trầm trọng; nạn thất nghiệp và bất ổn định xã hội và cuối cùng là có thể có những hậu quả về môi trường. Vậy những vấn đề và khó khăn như tiến sĩ Carl Thayer cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác đã nêu ra là vấn đề của riêng Việt Nam hay đó là những khó khăn mà các thành viên mới của WTO đều gặp phải?
Từ câu hỏi này, bài viết sẽ đề cập đến những vấn đề mà Trung Quốc đã trải qua sau 5 năm là thành viên của WTO. Sở dĩ chọn Trung Quốc vì khi so sánh Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng:
- Tương đồng về hình thức tổ chức nhà nước, chế độ chính trị;
- Tiến trình gia nhập WTO đều kéo dài và có những bước thăng trầm;
- Có nhiều lĩnh vực xuất khẩu tương đương đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp nhẹ.
Với ý tưởng trên bài viết sẽ đi vào tổng kết đánh giá những vấn đề mà Trung Quốc đã trải qua sau 5 năm là thành viên chính thức của WTO từ đó rút ra những liên hệ đánh giá và bài học kinh nghiệm và Việt Nam có thể tiếp thu được.
I- Nhìn lại 5 năm là thành viên WTO của Trung Quốc:
Sau 15 năm đàm phán thương thuyết, Trung Quốc đã chính thức gia nhập WTO vào tháng 11/2001 tại Hội nghị Bộ trưởng của WTO tại Doha (Qata). Với một nước như Trung Quốc việc gia nhập WTO có ảnh hưởng rất lớn đến các cường quốc thương mại như Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật... và có một điều mà các thành viên WTO lo ngại đó là sau khi gia nhập Trung Quốc có còn tôn trọng "luật chơi", có thi hành hay không các cam kết đã hứa hẹn. Chính vì lo lắng này mà để trở thành một thành viên chính thức Trung Quốc ngoài việc phải chấp nhận việc thông báo các luật lệ và biện pháp của mình lên WTO như mọi thành viên khác, hàng năm Trung Quốc sẽ còn phải qua một kỳ “sát hạch đặc biệt” để kiểm tra việc Trung Quốc có thực thi các cam kết của mình và chấp hành nghiêm chỉnh các quy tắc của WTO (được gọi là Cơ chế xét duyệt quá độ Trung Quốc).
Trong thời gian qua, mặc dù đã có cố gắng và tiến bổ trong việc thực hiện các cam kết của mình và tuân thủ các quy định của WTO nhưng Trung Quốc vẫn bị chỉ trích về hai vấn đề:
- Thứ nhất: cơ sở pháp lý và bộ máy hành chính. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và sửa đổi bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới cho phù hợp với WTO nhưng theo đánh giá của WTO thì đó thường là những quy định, nguyên tắc chung; các văn kiện áp dụng cụ thể hoặc chưa có hoặc không được thông báo đầy đủ. Hải quan và các cơ quan kiểm soát xuất nhập khẩu vẫn làm việc một cách tùy tiện, bất hợp lý, các thủ tục còn rườm rà, khó hiểu. Theo đánh giá chung, môi trường kinh doanh của Trung Quốc vẫn chưa trong suốt và bất ổn định, không đáp ứng tiêu chuẩn của WTO.
- Thứ hai: về quyền sở hữu trí tuệ. Đây là vấn đề mà Trung Quốc bị phản đối nhất đặc biệt là các nước lớn như Mỹ, Liên minh Châu Âu và Nhật. Các quốc gia này cho rằng quyền sở hữu trí tuệ ở Trung Quốc vẫn chưa được bảo vệ vì nhiều cản trở: không có sự điều phối giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ, các nhà chức trách; hiện tượng bao che tại địa phương và tham nhũng; các cơ quan điều tra kiểm sát không có đủ nhân sự cho công việc này và các vi phạm không bị xử lý thích đáng.
1- Những thắng lợi của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO:
a- Dệt may
Ngay từ trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO thì cũng đã có nhiều cảnh báo, lo âu về việc xâm chiếm thị trường dệt may đến từ Trung Quốc và chắc chắn những nước xuất khẩu bị lệ thuộc nhiều vào ngành công nghiệp dệt may thì chắc chắn sẽ không thể nào cạnh tranh nổi, sẽ bị loại khỏi thị trường, lâm vào vòng tụt hậu, nghèo đói.
Sau khi vào WTO và thoát khỏi hạn ngạch, ngành dệt may của Trung Quốc đã thật sự bùng nổ trong việc xuất khẩu hàng hóa ra thế giới và ngày càng chiếm lĩnh thị trường hơn nữa. Thị phần của dệt may của Trung Quốc, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, đang ở mức khoảng trên 20%, dự đoán tới năm 2010 sẽ đạt ngưỡng 50%. Như vậy trong vòng 5 năm tới một nửa số người trên thế giới sẽ “mặc quần áo” Trung Quốc. Có thể thấy mức độ tăng trưởng của ngành dệt may Trung Quốc xuất ra thế giới qua một vài con số sau:
Sản phẩm dệt may xuất quý I/2005 của Trung Quốc:
|
Loại sản phẩm |
Thị trường |
Tỷ lệ tăng |
|
Quần âu |
Mỹ |
1.500% |
|
Tất |
Châu Âu |
183% |
|
Áo sơ-mi |
Châu Âu |
186% |
|
Quần âu nam |
Châu Âu |
413% |
|
Áo len |
Châu Âu |
534% |
Cũng chính bởi những con số tăng trưởng như trên mà các quốc gia nhập khẩu sản phẩm dệt may của Trung Quốc đã phải áp dụng các biện pháp phòng chống như đơn phương sử dụng hạn ngạch (Mỹ) hoặc điều tra về tình hình nhập khẩu dệt may (Mỹ và Liên minh Châu Âu) để có biện pháp chống.
b- Ngành công nghiệp ôtô
Theo dự báo thì ngành công nghiệp ôtô sẽ là 1 cái giá phải trả cho việc Trung Quốc gia nhập WTO, các công ty nước ngoài sẽ ùa vào và bóp chết ngành sản xuất nội địa còn non trẻ. Tuy nhiên những gì đã diễn ra trong 5 năm qua lại hoàn toàn khác. Bằng sự năng động của các công ty như SAIC (Shanghai Automotive Industry Corporation) hay FAW (First Automotive Work) cùng hơn 100 công ty khác (đa số là thầu phụ), có sự hỗ trợ của nhà nước, việc sản xuất linh kiện và phụ tùng nội địa phát triển cùng với việc tiếp thu công nghệ từ các đối tác nước ngoài đã làm nên một cú bứt phá ngoạn mục của ngành công nghiệp ôtô Trung Quốc. Chúng ta có thể thấy rõ vấn đề này qua một vài con số sau:
- Năm 2002, số xe hơi bán tại thị trường Trung Quốc tăng 30% nhưng mức tăng trưởng của Volkswagen (Đức) là 16% còn Chery (1 công ty sản xuất ôtô của Trung Quốc) đạt mức tăng 305%.
- Năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu xe hơi của Trung Quốc đạt mức 3,5 tỷ USD
- Năm 2004, Trung Quốc sản xuất 5,07 triệu chiếc xe trong khi Đức sản xuất 5,57 triệu chiếc và với mức tăng trưởng này không lâu nữa Trung Quốc sẽ vượt Đức đễ giữ vị trí thứ 3 thế giới về sản xuất ôtô cũng như bắt kịp Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc xuất khẩu ôtô giá rẻ đi khắp thế giới.
Tuy nhiên cũng phải nói đến 1 lý do cho việc phát triển ngành chế tạo xe hơi của Trung Quốc đó là các công ty nước ngoài đã chấp nhận mạo hiểm để giành lợi nhuận dù biết rằng việc chuyển giao công nghệ vào Trung Quốc có độ rủi ro cao. Chính vì vậy, hàng ngàn công ty của Trung Quốc đã sản xuất được phụ tùng ôtô và được bán tự do cóp theo mẫu mã của các công ty sản xuất ôtô nổi tiếng thế giới, những công ty như Volkswagen, Citroen, Peugeot và Fiat - đã đầu tư các nhà máy sản xuất phụ tùng tại Trung Quốc từ năm 1985.
c- Sản phẩm nông nghiệp
Nông nghiệp và bảo hộ nông nghiệp trong nước luôn là 1 vấn đề gay cấn cho quá trình đàm phán gia nhập WTO của mỗi quốc gia. Đối với Trung Quốc thì đây là vấn đề yếu nhất khi đàm phán gia nhập WTO vì so với dân số Trung Quốc tương đối ít đất canh tác, kỹ thuật thô sơ, khả năng cạnh tranh với các nước sản xuất nông nghiệp mạnh như Mỹ, Úc, Canada, Brazil và Liên minh Châu Âu là rất khó.
Tuy nhiên Trung Quốc đã có những biện pháp dài hạn nhằm chuyển hướng cả nền kinh tế nông nghiệp, thay đổi vai trò của nông nghiệp trong kinh tế quốc gia lẫn cơ cấu mậu dịch nông phẩm. Bằng các biện pháp như chuyển sang sản xuất rau quả, cần ít đất đai hơn, để tăng việc sử dụng nhân công; bù đắp lượng ngũ cốc cần thiết bằng việc nhập khẩu. Trong năm 2003, trị giá xuất khẩu rau đã tăng 43% và quả là 80%, Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về xuất khẩu rau khô và rau đông lạnh, nấm chế biến, tỏi và quả đóng hộp. Về thủy sản Trung Quốc cũng đang đứng đầu với việc xuất khẩu thủy sản đã vượt ngưỡng 4,5 tỉ đô-la. Hiện nay Trung Quốc đã đứng hạng 8 thế giới về xuất khẩu nông sản và chiếm giữ vị trí bá chủ ở châu Á, chiếm giữ 15% tổng sản lượng các loại nông sản nhập vào Nhật Bản. Với tốc độ tăng trưởng về sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp như hiện nay thì Trung Quốc sẽ trở thành “nông trại của thế giới” trong tương lai không xa.
* Khởi nguồn của sự thành công: có thể nhận thấy rất rõ, khởi nguồn của sự thành công của Trung Quốc đó là nhờ các yếu tố:
- Có một chiến lược toàn diện trong đó nhà nước đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Tập trung phát triển các ngành mũi nhọn và những ngành thế mạnh, bao gồm: điện tử, dệt may, nông nghiệp, công nghiệp ôtô... với tiêu chí rẻ, nhiều và đẹp.
- Tạo nên những vị thế quan trọng trên chiến trường ngoại giao, trong mối quan hệ với các tổ chức quốc tế cũng như từng quốc gia.
- Biết phát huy thế mạnh của thị trường 1 tỷ dân, một thị trường mà làm thôi miên các nhà sản xuất, các lãnh đạo chính trị mọi nước, là giấc mơ (và ảo tưởng) của bao công ti, là mồi nhử hiệu nghiệm nhất của Trung Quốc mỗi khi mặc cả điều gì.
2- Những vấn đề của Trung Quốc hậu WTO
Cùng với việc trở thành thành viên chính thức của WTO và sự tăng trưởng kinh tế là sự phát triển của các đô thị, hệ thống vận chuyển, xây cất đường xá, phi trường, và cả các sân golf, trò chơi của giai cấp trưởng giả mới, diện tích canh nông ngày càng thu hẹp, từ 1999 đến 2003, Trung Quốc đã mất đi 7,6 triệu héc-ta đất nông nghiệp.
Như trong mọi nước trên đà kỹ nghệ hoá, hiện tượng người dân bỏ nông thôn về thành thị bắt đầu với sự phát triển của các vùng kinh tế ven biển Đông và càng ngày càng gia tăng. Hiện nay có hơn 100 triệu mingong (nông dân) từ các tỉnh nông nghiệp đổ về thành phố, sống và làm việc trong những điều kiện không hơn nô lệ bao nhiêu. Đây là một "trái bom nổ chậm" cho trật tự xã hội và để giải quyết, chính quyền sẽ phải bãi bỏ một hệ thống hộ khẩu đầy bất công, giam họ trong vòng nghèo túng và bấp bênh.
Về mặt quản lý và chính sách quản lý vĩ mô Trung Quốc hiện đang còn một số điểm yếu, đó là:
- Vẫn đề cao vai trò của các công ty quốc doanh với những “thói hư tật xấu” của nó như lãng phí, tham nhũng, thói tư vị, và cán bộ bất tài
- Hệ thống các ngân hàng nhà nước yếu kém do có những khoản nợ xấu khổng lồ, là các số tiền đã cho các công ti quốc doanh vay mà sẽ không đòi lại đuợc, tương đương với từ 40% đến 45% tổng số tín dụng.
- Mâu thuẫn xã hội do sự phân hoá giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng ven biển Đông và các vùng sâu vùng xa, giữa một tầng lớp thượng lưu sống xa hoa và đại đa số dân chúng còn đói kém, là mầm mống cho sự bất an. Ảnh hưởng của bên ngoài và những đòi hỏi của thế hệ trẻ, vấn đề dân chủ sẽ trở nên một thách thức cho công cuộc hiện đại hóa.
II- Những bài học từ Trung Quốc
Dân gian Việt Nam có câu “Nhìn người mà ngẫm đến ta”, trước những mặt được và chưa được của Trung Quốc sau 5 năm là thành viên của WTO, chúng ta có thể rút ra một số bài học.
Thứ nhất, cần có một chiến lược toàn diện. Đây là cách thức mà Trung Quốc đã tiến hành và đã cho thấy phát huy hiệu quả cao. Năm 2000, Trung Quốc ấn định một mục tiêu đầy tham vọng: nhân GDP lên gấp 4 trong 20 năm để đạt 4 000 tỷ đô-la, tức 3000 đô-la mỗi đầu người, năm 2020. Từ năm 1979, cả Trung Quốc đã ra sức làm giàu, để xoá đi gần hai thế kỷ suy thoái sau khi đã lỡ con tàu cách mạng kỹ nghệ, bị ngoại bang chiếm đóng rồi tụt hậu kinh tế trong thời Mao, xem đấy như một giai đoạn đen tối của lịch sử phải nhanh chóng đóng lại.
Thứ hai, phải biết phát huy những thế mạnh tiềm năng của mình. Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp và có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam còn thấp; năng suất sản lượng nông nghiệp chưa cao những điều này cần có sự can thiệp và điều tiết của nhà nước để phát huy tiềm năng.
Thứ ba, cần có sự cải tổ tư duy và làm việc của bộ máy hành chính. Việc cải tổ này là cực kỳ quan trong, vì có một bộ máy hành chính khỏe, trong sạch và lành mạnh thì các chính sách và chiến lược về kinh tế, xã hội, giáo dục sẽ được thực hiện theo đúng mục tiêu đã đề ra. Bộ máy đấy sẽ giúp quốc gia giảm thiểu những vấn đề về người lao động di cư ra thành phố, sẽ giúp việc khai thác và sử dụng tài nguyên một cách tối đa, sẽ giúp cho người dân có kiến thức hơn để có cách khai thác tốt nhất những sản phẩm nông nghiệp của mình.
So với Việt Nam, Trung Quốc là một quốc gia lớn và có tiềm lực hơn rất nhiều, tuy nhiên Việt Nam đã và đang khẳng định mình trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế mà việc tổ chức thành công hội nghị APEC vừa qua là một minh chứng rõ ràng và cụ thể nhất. Việt Nam đã có thời cơ, chúng ta đã nhìn ra hướng đi, điều chúng ta cần đó là những hành động và biện pháp cụ thể để có thể đạt được những thắng lợi tiếp theo trên con đường hội nhập và phát triển quốc gia.
Ths Luật học, Nguyễn Thọ Luân - Nguyễn Hồng Hải (Vụ Báo chí - Bộ Ngoại giao)